Anh hùng Lực lượng vũ trang

ANH HÙNG VÕ XUÂN KHUỂ: NGƯỜI CHIẾN SĨ CÔNG BINH CẢM TỬ PHÁ THỦY LÔI TRÊN DÒNG SÔNG GIANH HUYẾT MẠCH

Ninh Bình14/08/2026Lê Thị Thanh Vân ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

ANH HÙNG VÕ XUÂN KHUỂ: NGƯỜI CHIẾN SĨ CÔNG BINH CẢM TỬ PHÁ THỦY LÔI TRÊN DÒNG SÔNG GIANH HUYẾT MẠCH

Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ từ năm 1965, bến phà Gianh (Quảng Bình) đã trở thành một trong những "tọa độ lửa" khốc liệt nhất. Để cắt đứt hoàn toàn tuyến đường huyết mạch chi viện vũ khí, lương thực từ hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam, địch không chỉ điên cuồng trút bom đạn mà còn thả dày đặc các loại thủy lôi xuống lòng sông, biến dòng sông Gianh thành một cái bẫy c.h.ế.t chóc đối với mọi phương tiện vận tải.

Giữa lằn ranh sinh tử ấy, anh hùng Võ Xuân Khuể (sinh năm 1946 tại vùng đất sông nước Quảng Bình) đã viết nên những trang sử oanh liệt đầy quả cảm. Tháng 10/1965, ở tuổi 19 đầy nhiệt huyết, ông viết đơn tình nguyện xin vào lực lượng hải quân nhưng do không đủ tiêu chuẩn sức khỏe, ông được điều động nhập ngũ vào Đại đội Công binh C26 thuộc Tỉnh đội Quảng Bình.

Đơn vị của ông bám trụ ngay tại phà Gianh để thực hiện nhiệm vụ vận chuyển xe, vũ khí vào chiến trường. Ban đầu, ông Khuể được biên chế làm nhiệm vụ đưa phà qua sông, nhưng nhờ sự nhạy bén và can trường, chỉ sau 4 tháng, ông được cử đi học lái ca nô và vinh dự trở thành một trong 25 chiến sĩ tinh nhuệ của trung đội làm nhiệm vụ rà phá thủy lôi trực diện trên sông Gianh.

Trận chiến phá thủy lôi diễn ra vô cùng tinh vi và đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng. Mỗi lần máy bay địch quần thảo dội xuống dòng sông rộng khoảng 800 m từ 12 đến 24 quả thủy lôi, một đại đội quan sát ngày đêm ở hai bên bờ sẽ lập tức ghi nhận vị trí rơi để báo cho đội rà phá.

Để kích nổ thủy lôi, công binh hai bờ Nam - Bắc phối hợp kéo một sợi dây dài hơn 800 m băng qua sông, cứ cách 5 m lại buộc xen kẽ một cục nam châm và một cục sắt, quét qua quét lại trong bán kính 100 m để dùng từ trường kích nổ. Sau đó, ca nô của ông Khuể cùng hai đồng đội hỗ trợ sẽ chạy qua lại theo hàng lối trên sông để trực tiếp kích nổ những quả thủy lôi còn sót lại. Do thủy lôi địch có gắn dù và lơ lửng cách mặt nước khoảng một mét, ông Khuể phải điều khiển ca nô lao hết tốc độ từ 50 - 70 km/h; khi ca nô vừa xé nước băng qua, thủy lôi phát nổ ngay phía sau đuôi tàu, tạo nên những cột nước khổng lồ chực chờ nhấn chìm những người lính cảm tử.

Sinh ra và lớn lên ngay bên bờ sông Gianh, ông Khuể thông thuộc từng luồng lạch, từng điểm nông sâu nên những khu vực nguy hiểm nhất luôn được tin tưởng giao cho ông, bởi ông hiểu rõ nếu ca nô mắc cạn giữa trận địa thủy lôi thì cơ hội sống sót gần như bằng không. Năm 1967, nỗi đau ập đến khi mẹ ruột của ông hy sinh vì trúng tên lửa rocket của địch, ông Khuể nén đau thương, tiếp tục bám sông với tâm thế "nếu có hy sinh cũng không còn vướng bận".

Kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông là chuyến rà phá tại cửa biển vào một ngày âm u tháng 8/1968, nơi tiên lượng "lành ít dữ nhiều". Trước giờ xuất phát vào lúc 4 giờ sáng, đơn vị đã trang trọng tổ chức một lễ truy điệu sống cho ông cùng hai đồng đội với chiếc mũ cối, nắm cơm vắt và ba nén hương đặt trên mặt đất; dù biết cái chết cận kề, các chiến sĩ vẫn kiên cường ra khơi và xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ trở về an toàn.

Suốt 6 năm gian khổ bám trụ trên sông Gianh qua cả hai cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, ông vinh dự được kết nạp Đảng năm 21 tuổi và không thể nhớ hết mình đã phá hủy bao nhiêu quả thủy lôi, chỉ nhớ bản thân đã có tới 7 lần thoát c.h.ế.t thần kỳ. Trong đó, đỉnh điểm là trận đánh năm 1968, một quả thủy lôi nổ trúng gần ca nô hất tung ông lên không trung rồi rơi xuống nước, may mắn được đồng đội kịp thời cứu sống.

Với những cống hiến và sự dũng cảm vô bờ bến, ngày 06/7/1972, ông chính thức được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau khi Mỹ ngừng bắn ở miền Bắc vào cuối năm 1973, ông chuyển sang lái phà dân sự, rồi làm nhân viên bán vé khi cầu Gianh được khánh thành vào năm 1998, cống hiến trọn vẹn cho dòng sông quê hương cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2006.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn