ÁNH LỬA KÝ ỨC CỦA MẸ NGUYỄN THỊ BÔNG
Về phường Tân An, tỉnh Tây Ninh hôm nay, giữa nhịp sống đô thị hiện đại, thật khó hình dung nơi đây từng là vùng đất lửa, chứng kiến sự hy sinh oanh liệt của biết bao chiến sĩ cách mạng. Trong mạch nguồn truyền thống ấy, Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Bông như một biểu tượng sống động của lòng trung kiên.
Góa phụ tuổi 27
Người dân vẫn tự hào nhắc lại rằng, khu Tân An thuở ấy “80 nóc nhà thì có tới 70 nóc nhà có người làm cách mạng”. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nơi đây là cửa ngõ kết nối nhiều hướng chiến trường, vì vậy luôn bị địch kiểm soát gắt gao, sẵn sàng bắn giết bất cứ ai chúng nghi ngờ là Việt cộng.
Mẹ Nguyễn Thị Bông sinh năm 1940 trong một gia đình có truyền thống cách mạng; mẹ, chú và em trai của mẹ đều là cán bộ của ta. Ngay từ nhỏ, mẹ đã chứng kiến cảnh quê hương bị giày xéo, người thân bị bắt bớ, tra tấn, bức hại. Lòng căm thù sục sôi đã hun đúc ý chí để mẹ tiếp nối con đường cách mạng của gia đình như một lẽ tự nhiên. Mẹ âm thầm nuôi giấu cán bộ, trở thành hậu phương vững chắc cho chồng hoạt động bí mật, giữ trọn niềm tin vào ngày thắng lợi.
Địch thường xuyên càn quét, lùng sục, kiểm soát chặt chẽ từng con đường, từng ngôi nhà, khiến cuộc sống của người dân luôn trong cảnh thấp thỏm, lo âu. Nhà mẹ Bông nhiều lần bị chúng kéo đến tra hỏi, quấy nhiễu. Trước những ánh mắt soi mói và lời đe dọa, mẹ vẫn điềm tĩnh đáp: “Tôi không biết gì hết, tôi chỉ biết làm ruộng, chăm con…”. Không chỉ vậy, mẹ còn dặn các con “ai hỏi gì cũng nói không biết, tuyệt đối không được nói có ba hay các chú, các bác về nhà”, bởi mẹ hiểu rằng chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến cả cơ sở cách mạng bị tổn thất nặng nề.
Không chỉ là hậu phương, mẹ Bông còn trực tiếp tham gia giúp đỡ cách mạng với vai trò giao liên. Mẹ giấu thư từ trong búi tóc để qua mắt địch, len lỏi qua các đồn bốt. Những chuyến đi ấy luôn tiềm ẩn hiểm nguy, nhưng mẹ chưa từng chùn bước, góp phần giữ vững mạch liên lạc trong thời điểm cam go nhất. Mẹ còn âm thầm tiếp tế lương thực, thuốc men cho các cơ sở cách mạng.
Năm 1967, giữa cao điểm chiến lược “chiến tranh cục bộ” của kẻ thù, chồng mẹ là ông Lê Văn Khương đã hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ cài mìn tiêu diệt phương tiện của địch. Mẹ như chết lặng khi người chồng thân yêu không còn. Trong cảnh nghèo khó, mẹ phải đi xin từng đồng để lo hậu sự. Gom góp được 4.000 đồng, mẹ dùng 3.700 đồng mua hòm, 300 đồng mua vải làm khăn tang. Không có bàn thờ, mẹ phải mượn chiếc ghế của bà Sáu nấu rượu để làm nơi thờ cúng, mối mọt gặm nhấm cả tấm khăn tang.
Trở thành góa phụ khi mới 27 tuổi, mẹ không đi thêm bước nữa. Một mình mẹ vừa làm ruộng, vừa làm cha, làm mẹ, nuôi các con trong cảnh thiếu thốn đủ bề. Nhưng vượt lên nỗi đau riêng, mẹ vẫn một lòng theo cách mạng, bởi với mẹ, sự hy sinh của chồng càng thôi thúc mẹ phải kiên cường, vững vàng hơn.
Sống vì cách mạng, chết cũng vì cách mạng
Có những lần tận mắt chứng kiến chiến sĩ ta bị địch sát hại rồi bỏ lại bên đường, mẹ cùng chị em trong xóm lặng lẽ chôn cất giữa đồng ruộng. Mẹ kể, khi ấy nước ngập mênh mông, mẹ phải đứng dưới dòng nước dìm thi thể liệt sĩ xuống, còn chị em phía trên xúc từng vốc đất thả xuống, rồi kiên nhẫn vun đắp thành một nấm mồ nhỏ. Mẹ chỉ nói giản dị rằng “đã làm cách mạng thì phải mạnh dạn, phải biết thương anh em như ruột thịt trong nhà”. Chính tình thương ấy đã giúp mẹ vượt qua nỗi sợ hãi để làm nên những nghĩa cử lặng thầm mà cao cả.
Một lần, hành động ấy của mẹ đã lọt vào mắt của lính ngụy, chúng bắt mẹ lên dinh quận trưởng tra hỏi việc chôn cất Việt cộng. Mẹ bình thản trả lời: “Mình là người Việt Nam, thấy các em, các chú chết ngoài ruộng thì chôn, có gì đâu”. Câu nói mộc mạc mà đanh thép khiến chúng lúng túng, rồi phải thả mẹ về.
Trong suốt những năm tháng chiến tranh, mẹ hai lần bị địch bắt, giam cầm và tra tấn dã man. Tại ty cảnh sát Long An, chúng bắt mẹ nằm ngửa trên ghế đẩu, thân người ưỡn cong, đầu và chân chúc xuống, rồi đánh đập, ép khai báo. Khi bị đe dọa bắn chết, mẹ vẫn kiên quyết nói: “Nếu giết tôi thì hãy đưa cả 5 đứa con nhỏ của tôi đến đây, trước cột cờ này, mẹ con chúng tôi cùng chết”.
Bà Lê Thị Thớt, con gái út của mẹ Bông, cho biết: Không khai thác được gì, địch đành thả mẹ ra. Mẹ trở về nhà với thân thể “bầm tím như củ khoai lang”, ông bà ngoại và cả gia đình ai cũng xót xa, khóc cạn nước mắt.
Sống trong vùng địch kiểm soát, mẹ và bà con còn bị chúng bắt đi “đốn lá”, một thủ đoạn nhằm triệt phá nơi ẩn náu của cách mạng và biến người dân thành lá chắn sống trước mìn, chông. Mẹ không khuất phục. Bằng sự chân thành, mẹ còn cảm hóa được một số lính ngụy. Họ coi mẹ như người chị, chia sẻ những câu chuyện đời thường, để rồi giữa khói lửa vẫn le lói những tia sáng của tình người.
Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiều người tin rằng sự mất mát, hy sinh đã lùi vào quá khứ. Nhưng với mẹ, nỗi đau vẫn còn đó. Tháng 12-1975, người con trai đầu của mẹ - anh Lê Văn Thanh, khi đó là Xã đội phó xã Bình Tâm, huyện Châu Thành, tỉnh Long An (nay là phường Tân An, tỉnh Tây Ninh) đã hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ tại địa phương. Anh được công nhận là liệt sĩ và cấp Bằng Tổ quốc ghi công (năm 1994).
Sự hy sinh ấy không diễn ra giữa khói lửa chiến trường, nhưng vẫn đau đớn và ám ảnh như một vết thương chưa kịp lành. Thêm một lần nữa, mẹ phải tiễn người thân ra đi. Nỗi đau chồng chất nhưng mẹ vẫn lặng lẽ chịu đựng, tiếp tục sống với niềm tin đã theo mình suốt cuộc đời. Mẹ nói: “Sống cũng vì cách mạng, chết cũng vì cách mạng”.
Thượng tá Võ Đức Dũng, Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ CHQS tỉnh Tây Ninh cho biết, cuộc đời của mẹ Bông là minh chứng sinh động cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của người phụ nữ Việt Nam. Những hy sinh thầm lặng của mẹ và các gia đình có công đã góp phần làm nên thắng lợi của dân tộc, là nền tảng để thế hệ hôm nay tiếp tục phấn đấu, rèn luyện và bảo vệ Tổ quốc.
Năm nay, mẹ Nguyễn Thị Bông đã bước sang tuổi 86. Nhắc lại những ngày tháng ấy, trong mắt mẹ ánh lên niềm tự hào, đôi lúc nghẹn lại kể về người chồng và con trai đã hy sinh. Lo mẹ tuổi cao, sức yếu, chúng tôi xin phép ra về sớm. Rời căn nhà nhỏ giữa vùng đất Tân An yên bình hôm nay, chúng tôi càng thấm thía hơn những hy sinh, mất mát lớn lao mà những người bà, người mẹ năm xưa cho ngày Bắc - Nam sum họp một nhà.
27. MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ KIM OANH: HAI LẦN TIỄN CON, MỘT ĐỜI MANG NỖI NHỚ.
Ở tuổi 93, Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Kim Oanh (phường Trường Vinh, tỉnh Nghệ An) trí nhớ đã phần nào nhòa đi theo năm tháng. Thế nhưng, mỗi khi nhắc đến hai người con trai - liệt sĩ Nguyễn Ngọc Hà và Nguyễn Ngọc Hải - đôi mắt mẹ lại sáng lên. Trong giọng nói run run, xúc động, những ký ức khi rõ ràng, khi đứt quãng, nhưng tất cả đều thấm đẫm tình yêu thương và niềm tự hào của một người mẹ.
Mẹ Nguyễn Thị Kim Oanh sinh năm 1933, quê ở xã Hưng Tiến, huyện Hưng Nguyên (nay là xã Lam Thành), tỉnh Nghệ An. Suốt những năm tháng tuổi trẻ, mẹ là xã viên Hợp tác xã may mặc Thống Nhất, tảo tần cùng chồng - một người thầy giáo - nuôi dạy các con nên người. Trong mái ấm ấy, các con được dạy dỗ bằng sự nghiêm khắc nhưng đầy yêu thương, bằng những bài học sâu sắc về đạo lý làm người và trách nhiệm với quê hương, đất nước.
Hai lần tiễn con lên đường bảo vệ Tổ quốc
Người con trai thứ ba Nguyễn Ngọc Hà là niềm tự hào lớn của gia đình. Nhắc đến anh, ký ức trong mẹ như chậm lại, từng mảnh ghép của quá khứ dần hiện lên rõ nét. Mẹ kể: “Hà từ nhỏ đã ngoan ngoãn, hiền lành, được bà con lối xóm yêu quý. Nhà đông anh em, cuộc sống còn khó khăn, nhưng nó luôn biết nghĩ cho người khác. Nhiều bữa cơm, thấy các em còn đói, nó lặng lẽ nhường phần của mình…”.
Năm 1978, khi cùng lúc nhận được giấy báo nhập ngũ và giấy báo nhập học, anh Hà đã chọn lên đường bảo vệ Tổ quốc. Quyết định ấy không khiến mẹ bất ngờ, bởi bà hiểu con trai mình, một người luôn đặt lợi ích đất nước lên trên ước mơ riêng. Trở thành lính trinh sát của Sư đoàn 5, Quân khu 7, anh chiến đấu tại chiến trường Campuchia. Nhưng niềm tự hào chưa kịp trọn vẹn thì ngày 2-2-1979, mẹ nhận tin anh hy sinh. Nỗi đau ấy khắc sâu trong trái tim người mẹ, âm ỉ không nguôi.
Hai năm sau, năm 1981, mẹ lại tiễn người con trai thứ tư Nguyễn Ngọc Hải lên đường làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Tiếp nối nguyện vọng còn dang dở của anh trai, anh Hải trở thành lính đặc công thuộc Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 (nay là Quân đoàn 34), gác lại sau lưng bao hoài bão và tờ giấy báo trúng tuyển vào Trường Đại học Nông nghiệp I. Từ đó, những ngày tháng của mẹ là chuỗi dài chờ đợi, chất chứa nhiều lo lắng. Mỗi tin tức từ chiến trường đều khiến trái tim mẹ thắt lại. Và rồi, ngày 20-10-1981, mẹ nhận hung tin anh Nguyễn Ngọc Hải hy sinh.
Một đời mang nỗi nhớ khôn nguôi
Hai lần cầm giấy báo tử, nỗi đau chồng lên nỗi đau, mẹ tưởng chừng không thể gượng dậy. Nhưng nghĩ đến các con, mẹ tự nhủ phải sống tiếp để làm điểm tựa cho gia đình. Chị Nguyễn Thị Kim Thanh, con gái của mẹ, nghẹn ngào chia sẻ: “Ngày nhận tin anh Hải hy sinh, dù đã chuẩn bị tinh thần, hiểu rằng phải chấp nhận hy sinh vì đất nước, nhưng bố mẹ tôi vẫn đau đớn khôn nguôi. Những năm tháng sau đó, mẹ chỉ biết nương tựa vào bố để đi tiếp quãng đời còn lại…”.
Thời gian trôi qua, nỗi đau dần lắng lại nhưng chưa bao giờ vơi. Trong căn nhà nhỏ, những tấm bằng “Tổ quốc ghi công” được đặt ở vị trí trang trọng. Mỗi lần nhìn lên, ánh mắt mẹ lại dừng lại thật lâu. Không còn những giọt nước mắt, nhưng nỗi nhớ vẫn luôn hiện hữu.
Mẹ thường lặng lẽ ngắm những tấm bằng ấy như đang đối diện với chính các con mình. Với mẹ, đó không chỉ là sự ghi nhận của Tổ quốc, mà còn là minh chứng cho phần máu thịt đã gửi lại nơi chiến trường. Trong sâu thẳm, mẹ hiểu rằng sự hy sinh của các con là cao cả, là niềm tự hào mà không phải người mẹ nào cũng có.
Năm 1989, mẹ cùng chồng trở lại đơn vị cũ của hai anh để tìm phần mộ. Sau bao gian nan, trong niềm xúc động nghẹn ngào, mẹ đã tìm thấy các con. Đến năm 2012, phần mộ hai anh được cất bốc, đưa về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ TP Vinh, trọn vẹn ước nguyện đón con trở về của người mẹ.
Với những hy sinh, cống hiến to lớn, năm 2014, mẹ Nguyễn Thị Kim Oanh được phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Năm 2025, mẹ vinh dự được Tổng Bí thư Tô Lâm và Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm, tặng quà.
Hiện nay, mẹ sống cùng người con gái thứ sáu là chị Nguyễn Thị Kim Thanh. Mỗi ngày, mẹ vẫn ân cần kể lại câu chuyện về hai người con đã hy sinh như một cách gìn giữ ký ức gia đình, tiếp nối truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.



