ÁNH LỬA NƠI MIỆNG HẦM ĐẤT THÉP VÀ LẦN TIỄN BIỆT THỨ TÁM CỦA MÁ TÁM RÀNH
Giữa vùng bình định trắng Củ Chi, nơi bom cày đạn xới cách căn cứ Sư đoàn 25 "Tia chớp nhiệt đới" của Mỹ chỉ vài cây số, có một người mẹ đã đào hàng trăm mét hào, tiếp tế từng bát cơm, viên đạn cho bộ đội. Tám lần nhận tin các con ngã xuống, má không rơi một giọt nước mắt trước mặt giặc, âm thầm nuốt nỗi đau vào lòng đất mẹ để biến căn hầm ngầm thành pháo đài thép bất khả xâm phạm.
Căn hầm bí mật nằm nép mình bên gốc trâm bầu cổ thụ ở ấp Xóm Trại, xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi từ lâu đã trở thành một phần máu thịt của má Tám Rành. Vào những đêm cuối năm 1966, khi pháo sáng từ căn cứ Đồng Dù của Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ bắn lên xé toạc màn sương đặc quánh, má Tám lại lặng lẽ nhóm bếp Hoàng Cầm dưới lòng đất. Khói bếp tản theo những nhánh rãnh nhỏ rẽ vào tầng đất sét mịn, phảng phất mùi gạo rang ngai ngái trộn lẫn với mùi tanh nồng của đất vừa bị bom cày. Cứ sau mỗi đợt bom B-52 rải thảm, cả mặt đất Củ Chi rung chuyển như chao đảo trong cơn địa chấn dữ dội, nhưng dưới tầng sâu hun hút, bàn tay gầy guộc chằng chịt vết chai sạn của má vẫn thoăn thoắt đan từng chiếc bọc vải đựng cơm nắm, chuẩn bị tiếp tế cho các chiến sĩ du kích đang bám trụ vành đai.
Năm ấy, chiến dịch Cedar Falls ập đến như một cơn bão lửa nhằm biến vùng tam giác sắt thành bình địa cát trắng. Địch dồn dân vào các khu dồn và ấp chiến lược, dùng xe ủi xới tung từng bờ tre, ném bom xăng đặc biến ruộng đồng phì nhiêu thành bãi tro tàn. Bọn lính ngụy nhiều lần đến tận căn nhà tranh xiêu vẹo của má, chĩa mũi súng gằn giọng ép má phải tản cư ra khỏi khu lòng chảo lửa đạn. Má Tám đứng sừng sững bên bậu cửa, đôi mắt đục mờ vì khói súng nhưng ánh nhìn quắc thước lạ thường, má chỉ tay ra mảnh vườn lỗ chỗ hố bom mà bảo rằng đất này là của ông bà tổ tiên để lại, mồ mả tổ phụ ở đây, má già rồi không đi đâu hết, sống thác gì cũng ở lại mảnh đất này. Ban ngày, má giả vờ làm một bà lão làm nông cặm cụi cuốc đất nhặt cỏ, nhưng từng đường cuốc giáng xuống đều khéo léo ngụy trang lại nắp miệng hầm bí mật – nơi các đồng chí Huyện ủy Củ Chi và chiến sĩ trinh sát đang ẩn mình ngay dưới gót giày tuần tiễu của đối phương.
Đêm về, khi tiếng trực thăng tuần tiễu vừa khuất sau rặng trâm bầu, má lại chui xuống đường hầm, dùng chiếc đèn dầu tự chế bằng vỏ đạn pháo soi đường dẫn bộ đội đi xuyên qua các ngách địa đạo. Má nhớ như in từng ngóc ngách, từng khúc ngoặt nguy hiểm và vị trí của các bãi mìn gài sẵn. Trong những ngày khói lửa rực trời của chiến dịch Mậu Thân 1968, trạm phẫu thuật tiền phương được đặt ngay bên dưới căn hầm nhà má. Đạn pháo dập liên hồi trên mặt đất, cát bụi rơi rào rào qua kẽ ván trần hầm, má Tám vừa xé từng dải khăn rằn băng bó vết thương cho thương binh, vừa chia từng hớp nước mưa chắt chiu từ chiếc chum vỡ. Nhìn những người lính trẻ trạc tuổi các con mình đang oằn mình chịu đựng từng cơn sốt rét và vết mổ không thuốc tê, má xoa đầu từng đứa, nghẹn ngào gọi tiếng “con ơi” mà nước mắt chảy ngược vào trong tim.
Ít ai biết rằng, sâu thẳm trong lòng người mẹ kiên cường ấy là một nỗi đau không lời nào tả xiết. Tám người con trai ruột và hai người cháu của má đã lần lượt hy sinh trên khắp các chiến trường miền Nam, từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp cho đến khi bom Mỹ cày nát mảnh đất quê hương. Cứ mỗi lần nhận được tin sét đánh, má lại nén chặt tiếng khóc vào ngực áo bà ba đã bạc màu. Má không dám lập bàn thờ lộ thiên giữa vùng kiểm soát gắt gao của giặc, chỉ dám khấn thầm tên từng đứa con vào vách hầm đất sét lạnh lẽo mỗi đêm khuya. Khi người con trai út hy sinh trong một trận đánh giáp lá cà ngay sát bìa rừng An Nhơn Tây, má lặng lẽ băng qua bãi mìn dày đặc giữa đêm tối mịt mùng, tự tay dùng chiếc xẻng cùn bới đất đưa thi hài con về chôn cất bí mật cạnh hầm chỉ huy. Bàn tay rớm máu của người mẹ già khẽ vuốt lại mái tóc bết bùn đất của người con trai trẻ tuổi, không một giọt nước mắt rơi xuống trước mặt kẻ thù, bởi má hiểu rằng sự mềm yếu lúc này có thể làm lộ cả hệ thống địa đạo và mạng sống của hàng chục chiến sĩ đang ẩn nấp phía dưới.
Chiến tranh lùi xa, ngày non sông liền một dải, căn nhà tình nghĩa được dựng lên trên nền đất cũ ngập tràn ánh nắng và bóng mát của rặng tre xanh. Nhưng trên vách liếp đơn sơ, nơi má Tám Rành từng ngồi têm trầu ngóng đợi những bước chân trở về, là những tấm bằng Tổ quốc ghi công treo kín vách nứa. Cho đến những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, má vẫn giữ thói quen ngồi tựa lưng bên bậu cửa nhìn ra miệng hầm năm xưa, nơi đất mẹ Củ Chi đã ôm trọn những người con anh dũng của má vào lòng đất vĩnh hằng. Chiếc đèn dầu gỉ sét làm từ vỏ đạn năm nào vẫn nằm ngay ngắn trên góc bàn gỗ con, như một chứng tích lặng thầm về ý chí bất khuất, sự hy sinh tột cùng và tấm lòng bao la của người Mẹ Việt Nam Anh hùng đã hóa thành tượng đài bất tử trong lòng dân tộc.



