Bài viết

Anh Phạm Văn Bàn – người anh của chúng tôi

Thái Nguyên17/09/2026Phường Hoành Bồ (Phường Hoành Bồ)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh Phạm Văn Bàn sinh năm 1947, hơn chúng tôi khoảng năm tuổi. Quê anh ở thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh). Anh về đơn vị tôi từ năm 1968. So với cánh lính sinh viên chúng tôi, anh thuộc lớp đàn anh, đã có nhiều năm tháng sống và chiến đấu trong quân ngũ, từng trải qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt mà chúng tôi khi ấy mới chỉ nghe kể lại.

Cánh lính sinh viên chúng tôi nhìn các anh, những người đã từng trải qua mùa Mậu Thân, bằng một sự khâm phục gần như tuyệt đối. Trong con mắt của những chàng trai còn trẻ, các anh giống như những người anh hùng bước ra từ những bộ phim chiến tranh Liên Xô mà chúng tôi từng xem. Các anh ít nói về những gì mình đã trải qua. Những câu chuyện chiến đấu, những lần hành quân, những trận đánh… thường chỉ được kể lại bằng vài câu ngắn gọn. Chính sự bình thản ấy lại càng khiến chúng tôi cảm phục.

Anh Bàn cũng chẳng bao giờ tỏ ra là người đàn anh theo kiểu lên lớp hay chỉ bảo chúng tôi. Anh coi chúng tôi như những đứa em nhỏ trong nhà. Anh thường nói:

“Chúng mày bằng thằng em tao ở nhà, nhưng nhà tao nghèo, nó chả được học hành như chúng mày”.

Một câu nói rất bình dị, nhưng tôi nhớ mãi. Có lẽ trong câu nói ấy có cả hoàn cảnh của gia đình anh, có tình thương của một người anh đối với những đứa em và cũng có sự quý trọng đối với những người lính trẻ được học hành. Anh không nói những điều lớn lao. Cách anh đối xử với chúng tôi cũng không có gì đặc biệt, nhưng chính những việc nhỏ nhặt hàng ngày ấy lại làm chúng tôi cảm nhận được tình anh em trong quân ngũ.

Những ngày hành quân, đường rừng đường núi khi ấy không giống những con đường chúng ta đi hôm nay. Đường xa, ba lô nặng, mỗi người đều phải mang theo đủ thứ quân tư trang, vũ khí, dụng cụ. Có những lúc đi được một đoạn, đôi vai đã đau rát vì quai ba lô, bàn chân phồng rộp, người mệt rã rời. Anh Bàn thường đi phía trước hoặc đi bên cạnh chúng tôi. Thấy đứa nào mang nặng, anh lại bảo đưa đây anh mang cho.

Anh mang hộ cả cuốc, xẻng. Có khi chúng tôi ngại, bảo anh để chúng tôi tự mang, anh chỉ gạt đi:

“Thôi, đưa đây. Chúng mày còn phải giữ sức mà đi”.

Nói rồi anh khoác thêm lên người những thứ nặng trĩu ấy, cứ thế bước đi. Anh làm như chẳng có gì đáng kể. Nhưng đối với chúng tôi, những việc ấy lại có ý nghĩa rất lớn. Trong những cuộc hành quân dài ngày, một chiếc cuốc, một cái xẻng hay một món đồ nhỏ thêm vào ba lô cũng đủ làm người ta mệt thêm rất nhiều. Vậy mà anh nhận phần nặng về mình một cách tự nhiên, chẳng cần ai nhờ.

Có lần anh còn mang hộ Sỹ một thứ gì đó cho tôi. Tôi không còn nhớ chính xác hôm ấy là hành quân bao lâu, chỉ nhớ rằng anh đã mang giúp chúng tôi một món đồ mà nếu tự mình phải mang thêm thì chắc chắn sẽ rất vất vả. Anh cứ thế mang đi, giống như một người anh cả trong gia đình mang giúp phần đồ của những đứa em.

Ở chiến trường, tình cảm giữa những người lính đôi khi không nằm ở những lời nói. Nó nằm trong một ngụm nước được nhường lại khi khát, một phần lương khô được chia đôi, một chiếc võng được nhường chỗ, một bàn tay kéo nhau đứng dậy sau một chặng đường mệt mỏi. Với chúng tôi, tình cảm của anh Bàn cũng như thế. Anh không nói rằng anh thương chúng tôi. Anh chỉ âm thầm làm những việc của một người anh.

Chúng tôi khi ấy còn trẻ. Tuổi đời chỉ hơn kém nhau vài năm, nhưng trong môi trường chiến tranh, sự từng trải có khi tạo nên một khoảng cách rất lớn. Chúng tôi là những người lính sinh viên, mang theo vào chiến trường không chỉ tuổi trẻ mà còn cả sách vở, những kiến thức đã học và những ước mơ còn dang dở. Còn anh Bàn đã có nhiều năm sống trong quân ngũ, đã nếm trải những gian khổ mà chúng tôi mới bắt đầu làm quen.

Thế nhưng anh không bao giờ tạo cho chúng tôi cảm giác mình là những người lính non nớt. Anh luôn gần gũi, cởi mở, đôi khi còn trêu chọc chúng tôi như những đứa em ở quê nhà.

Có lẽ chính vì thế mà chúng tôi quý anh.

Những người lính cùng đơn vị ngày ấy, mỗi người một quê, một hoàn cảnh, một tính cách. Nhưng khi đã vào chiến trường thì tất cả đều trở thành người một nhà. Không còn chuyện anh là người Quảng Ninh, tôi là người nơi khác, người này học cao hơn, người kia ít học hơn. Cũng chẳng còn chuyện ai giàu, ai nghèo. Trước mắt chúng tôi chỉ có con đường hành quân, những nhiệm vụ phải hoàn thành và những người đồng đội đang đi bên cạnh mình.

Anh Bàn là một trong những người khiến chúng tôi hiểu sâu sắc hơn về hai chữ “đồng đội”.

Nhiều năm đã trôi qua. Chiến tranh đã lùi xa, những người lính năm xưa cũng đã già. Những con đường hành quân ngày ấy có thể đã thay đổi, những địa danh chúng tôi từng đi qua có thể đã trở thành những vùng đất khác. Nhưng ký ức về những người đồng đội thì không dễ mất đi.

Mỗi khi nhớ lại những năm tháng ấy, tôi vẫn nhớ hình ảnh anh Bàn với chiếc ba lô trên vai, tay lại xách thêm cái cuốc, cái xẻng hoặc mang giúp đồ cho một đứa em nào đó. Anh cứ lầm lũi bước đi giữa đội hình, chẳng cần ai biết mình đã mang thêm bao nhiêu cân nặng.

Ngày ấy chúng tôi nhìn anh như một người anh hùng.

Nhưng càng về sau, khi đã đi qua nhiều năm tháng của cuộc đời, tôi càng nghĩ rằng điều đáng quý ở anh không chỉ là những gì anh đã trải qua trong chiến tranh, mà còn là cách anh đối xử với những người xung quanh. Anh không cần những lời lớn lao. Anh chỉ sống như một người lính chân chất, thương đồng đội, thương những đứa em và sẵn sàng nhận phần khó về mình.

Có những người đi qua cuộc đời ta bằng những sự kiện lớn lao. Nhưng cũng có những người được nhớ mãi chỉ từ một câu nói, một việc làm rất nhỏ.

Với tôi, anh Phạm Văn Bàn là một người như thế.

“Chúng mày bằng thằng em tao ở nhà…”

Câu nói ấy của anh đã theo chúng tôi suốt những năm tháng chiến tranh, và có lẽ đến tận bây giờ, khi tóc chúng tôi đã bạc, nó vẫn còn nguyên sự ấm áp của một người anh dành cho những đứa em trong một gia đình đặc biệt – gia đình của những người lính.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn