Cựu chiến binh

Ánh sáng từ lòng đất tối ở Củ Chi

Những năm 1960-1972, Củ Chi là "vùng trắng" bị cày xới bởi bom B-52 và xe tăng Mỹ. Để tồn tại và đánh giặc, quân dân ta đã kiến tạo hệ thống địa đạo dài hơn 200km với nhiều tầng nấc, biến lòng đất thành pháo đài bất khả xâm phạm.

Hải Phòng29/03/2026Hoàng Thị Yến (xã Khúc Thừa Dụ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bác Năm đưa bàn tay thô ráp, các khớp xương bè ra vì hàng chục năm cầm cuốc xới đất, giọng bác khàn đặc:

"Cháu biết không, địa đạo không phải tự nhiên mà có. Nó được đào bằng những chiếc cuốc chim ngắn ngủn và những chiếc xẻng tự chế. Chúng bác đào đêm đào ngày, đất đổ xuống sông, đổ vào bụi rậm để giấu dấu vết.

Dưới lòng đất, không khí loãng lắm, chỉ thở qua những lỗ thông hơi nhỏ xíu giấu trong bụi cây. Cơm vắt trộn muối sả là món chính. Có những đợt càn quét kéo dài, chúng bác phải ở dưới đó cả tuần lễ, không thấy ánh mặt trời. Da dẻ ai nấy đều xanh xao, vàng võ vì thiếu nắng và thiếu oxy, nhưng hễ nghe tiếng xích xe tăng địch gầm rú bên trên là anh em lại siết chặt tay súng, chờ lệnh xuất kích."

Ánh mắt bác Năm bỗng trở nên rực cháy, bác kể về những đợt đối đầu nghẹt thở:

"Địch dùng đủ cách: bơm nước vào địa đạo, thả chó nghiệp vụ, rồi cho lính 'Chuột cống' (lính công binh Mỹ nhỏ con) chui xuống hầm. Bác nhớ nhất trận đánh năm 1967, anh Tư, người tiểu đội trưởng của bác, đã một mình ở lại ngách hầm hiểm yếu để chặn địch cho anh em rút lui sang tầng địa đạo sâu hơn. Anh Tư chỉ có một khẩu súng ngắn và vài quả lựu đạn. Khi tên lính Mỹ cuối cùng định ném lựu đạn vào hầm, anh Tư đã lao ra ôm chầm lấy nó. Tiếng nổ khô khốc trong không gian hẹp làm sập cả một đoạn hầm. Chúng bác đào thông sang thì anh Tư đã đi rồi... Anh ấy nằm đó, giữa đống đất đá, nụ cười vẫn còn vương trên môi vì đã bảo vệ được cả đơn vị."

Bác dừng lại, nhìn làn khói từ bếp sưởi tỏa ra, khẽ cười: "Kỳ diệu nhất là bếp Hoàng Cầm. Nấu ăn dưới đất mà khói không bay lên cao, chỉ là là mặt đất như sương mù để địch không phát hiện. Những đêm lặng tiếng bom, anh em lại quây quần bên ngọn đèn dầu lạc, kể cho nhau nghe về quê hương, về ngày hòa bình sẽ được lên mặt đất làm ruộng, lấy vợ. Cái chết ở ngay trên đầu, chỉ cách lớp đất mỏng vài mét, nhưng hy vọng thì luôn nằm sâu trong tim. Bọn bác gọi địa đạo là 'nhà', vì ở đó có tình đồng chí, có hơi ấm của những người sẵn sàng chết thay cho nhau."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn