"Anh viết cho em từ khói lửa chiến trường"
"Tôi gửi anh 4 bức thư (trong số gần chục bức thư tôi còn giữ được từ thời chiến), trong đó có những thư của hai vợ chồng chúng tôi khi còn đang yêu nhau...
"Tôi gửi anh 4 bức thư (trong số gần chục bức thư tôi còn giữ được từ thời chiến), trong đó có những thư của hai vợ chồng chúng tôi khi còn đang yêu nhau. Chúng tôi đã lưu giữ những bức thư này hơn 40 năm như một kỷ vật, để khi đọc lại, con cháu sẽ biết được phần nào cuộc sống, chiến đấu, học tập của cha mẹ, ông bà, về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc ta…", đó là những dòng tâm sự của Đại tá Phạm Xuân Sinh ở Khối 8, phường Hà Huy Tập (thành phố Vinh, Nghệ An). Những lá thư của chàng trai đang làm nhiệm vụ ở mặt trận Khe Sanh và cô gái đang học ở Trường Cơ điện Thái Nguyên đã minh chứng cho sức mạnh tình yêu của họ giữa khói lửa chiến trường.
Từ trên cao điểm, vào một buổi chiều tháng 10-1966, chàng lính trẻ Phạm Xuân Sinh đã tranh thủ biên thư về thăm người yêu:
|
Vợ chồng Phạm Xuân Sinh (Ảnh chụp năm 1970) |
"Em thân yêu,
Từ tiền tuyến, trận địa phòng thủ của một đơn vị, anh viết thư này gửi em. Lẽ ra để lúc khác có thời gian, nhưng anh nghĩ nên tranh thủ viết ngay cho em trên mảnh đất đang rực lửa bom đạn này.
Mấy ngày gần đây, nơi anh đang ngồi biên thư cho em - tình hình chiến sự xảy ra rất ác liệt. Bọn địch từ cao điểm bên kia kết hợp với hỏa lực không quân tổ chức nhiều đợt tấn công vào trận địa phòng thủ của đơn vị. Hàng ngày, từng đàn quạ sắt trút hàng chùm bom cháy, bom bi, bắn xối xả hàng trăm quả rốc-két... Bọn địch từ cao điểm bên kia cũng hùa theo bắn hàng trăm quả đại bác để dọn đường cho bộ binh tiến".
Biết rằng người yêu mình - chị Lê Kim Dung - rất thích nghe chuyện chiến trường, anh đã kể cho người yêu nghe sơ qua vài nét về đồng đội mình và những cảm nghĩ về họ - những chiến sĩ trẻ đang chiến đấu cùng anh.
"Kẻ địch tưởng dùng sức mạnh sắt thép là có thể khuất phục được trái tim và lý trí của những người chiến sĩ trẻ, nhưng chúng đã lầm to. Sức mạnh sắt thép của chúng chỉ làm cho đất đá tung lên, cây cối cháy sém, trơ trụi, khét lẹt chứ không thể mảy may nào khuất phục được họ. Bởi họ là những chiến sĩ cách mạng, được trang bị bằng một thứ vũ khí tuyệt mạnh, mạnh gấp ngàn lần sắt thép. Họ vẫn từng giờ, từng phút vững vàng trên trận địa, bám lấy từng mô đất, từng công sự, ụ súng, từng đoạn chiến hào một cách gan góc, sẵn sàng đánh lui bất cứ đợt tấn công nào của chúng. Và kết quả là họ đã đánh lui hoàn toàn 7 đợt tấn công của địch. Họ trẻ lắm em ạ, rất trẻ, tính cả tuổi đời và tuổi quân. Họ là những thanh niên đang lứa tuổi 18 - 20 (thậm chí có người mới 17 tuổi) - lứa tuổi mới bước vào đời, đầy ước mơ, hy vọng. Phần đông mới rời ghế nhà trường, mới rời khỏi sự nâng niu của bố mẹ, nhập ngũ chưa đầy một tuổi quân.
Thật đáng tự hào cho tuổi trẻ của chúng ta, lứa tuổi được lớn lên trong thời đại anh hùng, thời đại hừng hực lửa chiến đấu và được trưởng thành trong thử thách, rèn luyện của cuộc chiến thần thánh vì lý tưởng cao đẹp của chúng ta.
Em thân yêu,
Anh ngồi viết lá thư này cho em khác với lần anh viết cho em ở một khu rừng nào đó. Anh ngồi dưới một công sự, cũng ở một khu rừng nhưng cách chỗ anh ngồi không phải là một bông hoa rừng đáng quý, đáng yêu, mà là những chiến sĩ trẻ rất đáng yêu, đáng quý. Trước mặt anh không đầy 100m, những tiếng đại bác của địch thỉnh thoảng vẫn nổ ình oàng…".
Viết thư về cho người yêu và ít tháng sau người lính trận ấy đã nhận được sức mạnh từ hậu phương, đó là những dòng thư chan chứa yêu thương của người yêu, những lá thư đã tiếp thêm nghị lực và niềm tin chiến thắng cho anh:
|
Bút tích lá thư Phạm Xuân Sinh gửi người yêu (Ảnh do nhân vật cung cấp) |
"Tháng 4-1968
Anh thân yêu!
Vừa nhận được thư của chú Vinh, qua thư được biết là anh vẫn khỏe, em phấn khởi lắm. Em tranh thủ viết thư cho anh, mong sao trong chặng đường gập ghềnh gian khổ, thư sẽ bay đến anh và em tin như thế vì nó có một sức mạnh lớn lắm anh ạ.
Anh yêu, 6 tháng rồi không nhận được thư anh, nhiều lúc em cảm thấy buồn buồn, nhớ nhớ. Nhiều lúc tự an ủi mình "còn phải chịu đựng những ngày dài hơn nữa", phải không anh? Theo tiếng gọi của Tổ quốc, anh ra đi với một nỗi niềm phấn khởi để thực hiện lý tưởng cao đẹp nhất của mình, xứng đáng là người con yêu của Đảng như anh đã nói trong lá thư anh gửi cho em trên đường hành quân. Anh thường viết thư bảo em "anh muốn có một cái gì cao thượng trong tình yêu" - điều đó em hoàn toàn nhất trí, và đây là quá trình thử thách của chúng ta đấy. Anh ạ, em tin rằng sau ngày chiến thắng, điều tốt đẹp đó sẽ đến với hai chúng ta… Thầm mong cho anh luôn khỏe, hoàn thành mọi nhiệm vụ để xứng đáng là người con của Đảng, người chiến sĩ cách mạng".
Theo tâm sự của Đại tá Phạm Xuân Sinh, những lá thư của người vợ tương lai và của người thân gửi cho anh vào thời điểm năm 1969 có khi bảy, tám tháng sau mới tới tay người nhận ngoài chiến trường. Qua những lá thư nhà, anh cũng biết tin ngôi nhà nhỏ ở quê đã bị giặc tàn phá. Trong thư gửi người yêu, anh viết: "Thế là 18 năm trước gia đình anh bị giặc Pháp tàn phá thì nay lại đến giặc Mỹ. Nợ nước chưa xong, thù nhà càng thêm nặng!" để rồi khi đã là một người lính cầm súng, anh càng nung nấu quyết tâm trả mối oán hờn đó.
Trong lá thư gửi người yêu ngày 26-3-1969, anh viết:
"Đọc thư em, lòng anh thấy nao nao khó tả, một cảm giác nhớ nhung, bồn chồn như lâng lâng trỗi dậy trong anh, gợi anh nhớ lại những kỷ niệm đã qua, nhớ lại những đêm đầu hò hẹn, tâm tình nơi quê nhà yêu dấu. Em! Có phải đến bây giờ chúng ta mới hiểu đâu, mà ngay từ những buổi đầu chúng ta cũng đã hiểu - hiểu một cách rất tự giác, cái chân lý ngàn đời không thay đổi: Tình yêu chưa thể trọn, hạnh phúc chưa thể đủ đầy khi quân thù đang còn giày xéo non sông và trong hoàn cảnh đó đối với chúng ta thì "hạnh phúc" chỉ có thể trọn vẹn, đủ đầy khi mà xung quanh ta rộn vang những tiếng trống, tiếng kẻng không phải báo hiệu quân cướp biển, cướp trời, cướp đất... mà là những tiếng báo hiệu một ngày hội thanh bình, một mùa xuân trong độc lập tự do thật sự.
Hai năm sau cái đêm tâm tình dang dở. Bỗng trống giục đầu thôn. Chúng ta lại có dịp gặp nhau, cũng vào tuần trăng đầu em nhỉ? Anh về giữa lúc em đang vào mùa bận rộn, nào việc nhà, việc hợp tác, việc đoàn thể. Vài ba buổi gặp nhau, kể ra cũng chẳng được trọn vẹn, thoải mái cho lắm. Gần 5 năm chúng ta chưa được gần nhau trọn một tuần trăng. Cái tỷ số 5/1500 mà em đã tính ấy chúng ta tin tưởng sẽ không bao giờ biến thiên đến vô cực mà hy vọng nó chỉ đến một giới hạn nhất định nào đó, chắc em cũng rất mong tỷ số đó chỉ biến thiên ở giới hạn ngắn nhất phải không em?".
Những dòng thư viết từ khói lửa chiến trường và những cánh thư gửi từ hậu phương đã tiếp thêm sức mạnh cho tình yêu lứa đôi của anh Sinh, chị Dung. Như trong những dòng thư họ trao gửi, thời gian xa nhau chính là những năm tháng thử thách, rèn luyện để họ có những bước trưởng thành trong cuộc sống: "Anh rất bằng lòng về những tiến bộ của em. Tuy xa em nhưng anh vẫn dõi theo từng bước đi của em và mong em chóng thực hiện được những hoài bão lớn". Khi ấy, người vợ tương lai của anh - cô nữ sinh Trường Cơ điện - cũng luôn xác định: "Tình yêu của chúng ta chưa thể trọn vẹn, khi quân thù còn giày xéo quê hương"...




