Bài viết

B3min và công cuộc “bồi bổ” cho bộ đội

Vĩnh Long10/06/2026Lê Duy Khánh (Đoàn xã Tân Hào)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đi qua 2 cuộc chiến tranh khốc liệt, Anh hùng LLVTND - Thiếu tướng Nguyễn Tụ tâm sự, điều ông tự hào nhất là có mặt tại những chiến dịch ác liệt nhất, được sát cánh bên đồng đội, giúp họ vượt qua những đau thương của chiến tranh tại trận địa. Không chỉ điều trị, việc phòng bệnh, nâng cao sức khỏe cho hàng vạn chiến sĩ bấy giờ là một nhiệm vụ cần kíp và trọng đại. Kế hoạch bảo đảm quân y cho các chiến dịch lớn, nhỏ được xây dựng hoàn hảo. Nhiều loại “thần dược” ra đời ở thời điểm này.

“Giữa rừng thiêng, nước độc của núi rừng Tây Nguyên, những chiến sĩ quân y sáng tạo không ngừng. Chúng tôi chưng cất được cồn để sát trùng khi tiêm và điều trị, lấy lá chuối non hỗ trợ trị bỏng bom Nepal, làm được B3min bồi bổ cho bộ đội, lấy lá rừng thay cho kháng sinh điều trị vết thương hở…”, Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tụ (nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó giám đốc Chính trị Học viện Quân y) tự hào nói.

10 năm tròn ở mặt trận Tây Nguyên, trải qua 10 chiến dịch, những gì ác liệt nhất ở mặt trận này, Thiếu tướng Nguyễn Tụ đều thấm cả.

Ông hồi tưởng: Tháng 12/1965, khi đang là Đại úy, ông vào Tây Nguyên với nhiệm vụ là trợ lý kế hoạch cho Cục phó Cục Quân y Võ Văn Vinh để chuẩn bị sẵn sàng xây dựng bệnh viện 211 phục vụ chiến trường. Nhiều chuyên viên giỏi của Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cùng ông lên đường thời điểm này như bác sĩ Lê Cao Đài chuyên mổ lồng ngực; Nguyễn Văn Âu chuyên gia truyền nhiễm; Đinh Văn Lạc chuyên mổ sọ não; bác sĩ Vũ Bích – nội thần kinh; Đỗ Xuân Chương chuyên về tiêu hóa... Họ hành quân mang theo nhiều máy móc và các vật tư y tế, thế nhưng dọc đường Trường Sơn ác liệt, những trang thiết bị, vật tư này đều bị bom đánh cho hỏng phần lớn.

Tại Tây Nguyên, cơ sở điều trị rất hoang sơ. Thiếu máy móc, thiếu vật tư y tế, khó khăn dồn lên vai đội ngũ quân y. Nhiều chuyên khoa không thể phát huy trong tình cảnh thiếu thốn. Làm thế nào để bộ đội có sức chiến đấu là điều mà lực lượng quân y rất tâm tư.

Ông tâm sự, bấy giờ, tỷ lệ thương binh không cao hơn tỷ lệ bệnh binh. “Cứ sau mỗi chiến dịch, bệnh binh ồ ạt vào các bệnh viện gấp 4 lần thương binh. Sốt rét, suy dinh dưỡng như một vòng luẩn quẩn với các chiến sĩ. Sốt rét làm mất sức chiến đấu của bộ đội ghê gớm”, ông kể.

Không ai vào chiến trường Tây Nguyên này không bị sốt rét. Người nhẹ, chủ yếu đã có miễn dịch từ trước. Với Thiếu tướng Nguyễn Tụ cũng vậy, ông từng mắc sốt rét nguy kịch ở Điện Biên Phủ, nên ông thấu hiểu được những gì mà đồng đội mình đang phải trải qua. Những anh em tân binh, cũng phải trải qua mỗi năm một trận sốt rét mới có miễn dịch cơ thể.

Sốt rét là bệnh gây đau đầu với chỉ huy các đơn vị. 100% ca sốt rét, sẽ có khoảng 20% là sốt rét ác tính và khoảng 5-7% trong số đó sẽ tử vong. “Có lần, chúng tôi xuống một tiểu đoàn quân y, trong số 200 thương bệnh binh nằm tại đây, đã có 20 anh tử vong trên võng vì sốt rét”, ông chua xót nói.

Để bảo đảm đủ quân số cho một đại đội đi chiến đấu, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (Tư lệnh chiến trường Tây Nguyên) ra lệnh, quân y chiến trường ngoài nhiệm vụ cứu chữa thương binh thì việc quan trọng số một là phải giải quyết vấn đề sốt rét. Mà muốn giải quyết sốt rét thì phải tăng cường được sức khỏe cho bộ đội ta.

“Trong chiến trường Tây Nguyên, lực lượng quân y có mấy “ông trùm” về truyền nhiễm như Nguyễn Văn Âu, Võ An Dậu đã có những sáng kiến tuyệt vời trong giai đoạn này, trong đó đã tự sản xuất viên đạm bằng giun đất”, Thiếu tướng Nguyễn Tụ hào hứng kể.

Mùa mưa ở Tây Nguyên, giun đùn lên hàng tạ, lổm nhổm trên mặt đất. Nghĩ đến bài thuốc đông y địa long được làm từ giun đất, Thiếu tướng Nguyễn Tụ trao đổi với mấy đồng chí dược sĩ: “Các chú nghiên cứu xem có cách nào khoa học hóa để cô đặc giun đất này thành thuốc chữa sốt rét cho bộ đội, tăng miễn dịch cho bộ đội”. Anh em nhanh chóng bắt tay làm ngay. Sau khi thu được hàng tạ giun, quân y hối hả nấu cao mềm giun rồi trộn với bột sắn, se thành những viên đạm nhỏ. Để bảo đảm cơ sở khoa học bồi bổ cho các chiến sĩ, ông Tụ gửi viên thuốc ra bắc để nhờ phân tích viên đạm.

“Kết quả ngoài bắc gửi vào, tất cả những axitamin cơ thể không tự tổng hợp được đều có trong viên thuốc này. Anh em mừng khôn xiết, ngay sau đó một triệu viên đạm được lấy tên B3min ra đời”, Thiếu tướng Nguyễn Tụ nói đầy tự hào.

Để tăng cường sức chiến đấu cho bộ đội, các chiến sĩ quân y vào rừng, thu thập xương các con vật đã rữa hết thịt, mang về nấu cao. Một bộ xương voi khi đó có thể nấu được 3-4 tạ cao, phục vụ cho toàn quân. Vấn đề bổ sung đạm cho bộ đội vậy là đã thành công.

Để tăng cường dinh dưỡng, toàn chiến trường phải tổ chức sản xuất. Mỗi đơn vị đều có một hậu cứ, sử dụng nương cũ của dân để trồng sắn, lúa, lạc, vừng, chăn nuôi… Được chăm sóc dinh dưỡng tốt, tỷ lệ sốt rét giảm hẳn, đặc biệt là giảm tỷ lệ sốt rét ác tính gây tử vong xuống còn một nửa.

Chiến trường thiếu thốn đủ bề, những tét cồn được chở từ bắc vào Tây Nguyên, tới nơi cũng bay hơi hết. Không có cồn y tế, lực lượng quân y chỉ có cách sử dụng nước sôi để nguội sát trùng trước khi tiêm; luộc gạc, bông băng thu hồi sử dụng lại nên bộ đội bị áp xe nhiều và vết thương nhiễm trùng nặng nề...

Năm 1968, ông Nguyễn Tụ làm Phó Chủ nhiệm quân y chiến trường Tây Nguyên. Để bảo đảm công tác quân y cho chiến trường khắc nghiệt B3, Thiếu tướng Nguyễn Tụ bàn với anh em, không thể phụ thuộc vào lượng cồn chi viện từ bắc. Nhưng để làm gì có được cồn cho công tác điều trị, anh em quân y đã học cách làm men rượu của đồng bào địa phương. Dần dà, chiến sĩ học được làm men vi sinh vật, trồng sắn để làm rượu, chưng cất được rượu lên tới 70 độ. Với sáng kiến dùng vôi bột đóng thùng, chiến sĩ quân y đã chưng cất được cồn lên tới 90 độ.

Để kịp thời điều trị cho thương binh bị sốc, nguy kịch, dịch truyền glucose rất quan trọng nhưng ở chiến trường này, việc có dịch truyền glucose là một điều xa xỉ. Anh em quân y lại có sáng kiến chưng cất đường đỏ của nước bạn Campuchia, sau đó thủy phân thành glucose. “Đây cũng là một sáng kiến tuyệt vời”, Thiếu tướng Nguyễn Tụ khoe.

Ngay tại chiến trường này, các chiến sĩ quân y cũng đã sáng tạo sản xuất được các ống thủy tinh. Họ thu hồi những lọ chai đã đựng thuốc, ống thuốc tiêm… nấu lại thành thủy tinh, nhờ quân lực tìm những thợ lành nghề trong lĩnh vực này để sản xuất những ống thủy tinh mới phục vụ tiêm truyền.

Được coi là vũ khí ghê rợn nhất lịch sử nhân loại, bom Napan đã khiến nhiều chiến sĩ của ta, đặc biệt trong chiến dịch Đắc Siêng bị bỏng khủng khiếp. Bỏng toàn thân, lột da, nhiễm trùng, đau đớn đến tận xương tủy. Nhìn anh em đau đớn mỗi lần thay băng mà không có thuốc gây mê, các chiến sĩ quân y lòng đau như cắt. Đồng chí Nguyễn Đình Hiếu khi đó đã có sáng kiến lấy nõn lá chuối non hấp tiệt trùng, đục những lỗ nhỏ, đắp vào vết thương sau đó mới đắp gạc lên. Nhờ đó, những thương binh bị bỏng bớt đi phần nào đau đớn mỗi lần phải thay băng gạc. “Nghĩ vì thương binh, chúng tôi có nhiều cách để làm thế nào giúp chiến sĩ của ta vơi đi nỗi đau”, Thiếu tướng Nguyễn Tụ trầm tư.

Nhiều kinh nghiệm của đồng bào cũng được anh em tận dụng triệt để. Biết được cây lân-tơ-uyn (một loại cây tầm gửi) có thể chữa được vết thương trầy xước, chiến sĩ quân y đã phân tích và thấy đây là loại cây có kháng sinh trị thương tốt. Họ mang về nấu thành cao lỏng, thay cho dung dịch rửa vết thương mỗi khi thay băng.

Là người có kinh nghiệm điều trị thương bệnh binh ở trận địa Điện Biên Phủ khốc liệt, Thiếu tướng Nguyễn Tụ cũng đã thể hiện khả năng lãnh đạo quân y tài tình ở mặt trận Tây Nguyên.

Ông kể , trong chiến dịch Tây nguyên sau giải phóng Buôn Ma Thuột, địch rút khỏi Tây nguyên, bộ đội phát triển đánh xuống các tỉnh miền trung rất nhanh. Quân y phải tổ chức cứu chữa thương binh trong hành tiến theo hình thức sâu đo... Cách này, lực lượng chia thành nhiều đơn vị nhỏ, để mỗi nơi một vài đồng chí chăm sóc thương binh và lần lượt vận chuyển thương binh về tuyến sau. Nhờ đó, công tác vận chuyển, cứu chữa hơn 2.400 thương binh được trơn tru. Việc vận chuyển thương binh bằng xe cơ giới đã tạo điều kiện giải phóng khẩn thương thương binh cho các phân đội và cơ sở quân y, nhất là trong chiến đấu truy kích, phát triển.

Trong chiến dịch Tây Nguyên đã sử dụng 2 bệnh viện dã chiến Z100 (Viện 1 cũ), Z200 (tách từ Bệnh viện 211), 3 đội điều trị (3, 17, 25), và được Bộ tăng cường một đội điều trị (48). Tỷ lệ thương binh được xử trí ở tuyến trung đoàn, sư đoàn là 89%, tuyến đội điều trị là 3,7%; tuyến bệnh viện là 7,3%. Sau này, nhờ được bảo đảm lương thực, thực đoàn khá hơn, công tác vệ sinh phòng bệnh được đẩy mạnh, phấn chấn tinh thần nên quân số khỏe khối bộ binh đạt 98,67%, khối binh chủng đạt 96,14%; mỗi đại đội trung bình bảo đảm được trên 70 tay súng, tỷ lệ bệnh binh so với tổng số thương binh, bệnh binh chỉ bằng 34,4%.

Tháng 3/1975, quân đoàn 3 được thành lập, Thiếu tướng Nguyễn Tụ cùng đồng đội nhận lệnh hành quân vào Nam Bộ tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Quân đoàn 3 chủ yếu tập kết ở khu vực Dầu Tiếng, chờ lệnh để vào Sài Gòn theo hướng Tây Bắc, đánh cứ điểm Đồng Dù, xuống Củ Chi, Hóc Môn rồi tiến đánh chiếm Sân bay Tân Sơn Nhất...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
B3min và công cuộc “bồi bổ” cho bộ đội | Câu chuyện thời hoa lửa