Anh hùng Lao động

Bà Ba Thi và cuộc hành quân đưa hạt gạo miền Tây về thành phố

Khi hàng triệu người dân Thành phố Hồ Chí Minh đối diện cảnh thiếu gạo sau chiến tranh, bà Nguyễn Thị Ráo – Ba Thi – đã vượt qua rào cản của cơ chế bao cấp, tổ chức mua và đưa lương thực từ đồng bằng sông Cửu Long về thành phố.

Ninh Bình22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Thành phố Hồ Chí Minh bước vào hòa bình nhưng phải đối diện một cuộc chiến khác: làm sao bảo đảm đời sống cho hàng triệu người dân trong điều kiện sản xuất đình trệ, lưu thông đứt gãy và nguồn lương thực ngày càng thiếu hụt.

Những năm cuối thập niên 1970, người dân thành phố phải mua gạo bằng tem phiếu. Nguồn gạo Nhà nước phân phối không đáp ứng đủ nhu cầu. Nhiều gia đình phải độn bo bo, khoai hoặc sắn vào bữa ăn. Có tiền chưa chắc mua được gạo; còn ở thị trường tự do, giá lương thực tăng cao, vượt quá khả năng của phần lớn cán bộ, công nhân và người lao động.

Điều tưởng như nghịch lý là trong lúc thành phố thiếu ăn, nhiều vùng sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long lại còn lương thực. Nông dân không muốn bán theo giá thu mua quá thấp, trong khi các địa phương không được tự do bán lượng lúa nằm ngoài kế hoạch. Những trạm kiểm soát trên đường làm cho việc vận chuyển hàng hóa giữa các tỉnh càng khó khăn.

Giữa hoàn cảnh đó, một người phụ nữ đã nhận nhiệm vụ đặc biệt: đi xuống miền Tây tìm mua lúa gạo cho thành phố. Bà là Nguyễn Thị Ráo, thường được gọi bằng bí danh Ba Thi.

Bà sinh năm 1922 tại Trà Vinh. Năm 1940, khi mới khoảng 18 tuổi, bà đã tham gia hoạt động cách mạng. Công việc liên lạc của bà khi ấy được che giấu dưới vai một người buôn gạo. Có lẽ không ai ngờ rằng gần bốn mươi năm sau, hạt gạo một lần nữa trở thành phần quan trọng nhất trong cuộc đời hoạt động của bà.

Sau năm 1975, Ba Thi công tác trong ngành lương thực Thành phố Hồ Chí Minh. Trước nguy cơ thiếu đói, lãnh đạo thành phố, trong đó có Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt, nhận thấy không thể chỉ ngồi chờ nguồn phân phối theo kế hoạch. Bà Ba Thi đề xuất tổ chức một lực lượng trực tiếp xuống các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, mua lúa của nông dân theo giá thỏa thuận rồi đưa về thành phố.

Đề xuất ấy nghe có vẻ bình thường nếu nhìn từ cơ chế thị trường ngày nay. Nhưng vào thời điểm đó, lương thực là mặt hàng do Nhà nước quản lý chặt chẽ. Mua cao hơn giá quy định và vận chuyển hàng qua địa giới tỉnh có thể bị xem là làm trái cơ chế.

Theo một số tư liệu, giá thu mua lúa theo quy định khi đó chỉ khoảng 0,52 đồng một kilôgam, trong khi mức giá thỏa thuận mà thành phố chấp nhận trả cho nông dân lên tới 2,5 đồng. Khoảng cách rất lớn giữa hai mức giá cho thấy vì sao người sản xuất không muốn bán lúa theo giá cũ.

Được lãnh đạo thành phố đồng ý, Ba Thi lên đường.

Phần đông thành viên trong các tổ thu mua của bà là phụ nữ. Họ đi từ tỉnh này sang tỉnh khác, có chuyến xuống tận vùng Minh Hải – địa bàn Cà Mau và Bạc Liêu ngày nay. Không chỉ làm việc với cơ quan địa phương, những cán bộ thu mua còn đến các xã, ấp và từng gia đình, vận động nông dân bán lúa để cứu tình trạng thiếu gạo ở thành phố.

Ba Thi hiểu rằng không thể chỉ yêu cầu người nông dân hy sinh. Họ cũng cần dầu thắp sáng, vải may quần áo, thuốc men, phân bón và nhiều hàng tiêu dùng thiết yếu. Thành phố vì vậy tổ chức phương thức “hàng hai chiều”: đưa những mặt hàng nông thôn đang thiếu xuống đổi lấy lúa gạo, bảo đảm lợi ích của cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng.

Những chuyến xe chở gạo phải đi qua nhiều trạm kiểm soát. Mỗi lần phương tiện bị giữ lại, cán bộ thu mua phải giải thích, liên hệ và tìm cách tháo gỡ. Với Ba Thi, số gạo trên xe không đơn thuần là một lô hàng. Đó là bữa ăn đang được hàng triệu người ở thành phố chờ đợi.

Gạo về đến nơi mới chỉ hoàn thành một nửa công việc. Nếu vẫn phân phối bằng hệ thống cửa hàng mậu dịch cồng kềnh, lương thực khó có thể đến tay người dân nhanh chóng. Bà Ba Thi tiếp tục đề xuất xây dựng mạng lưới đại lý bán gạo ngay trong các khu dân cư.

Khoảng 2.300 đại lý được đặt tại nhà dân. Các điểm bán này giúp tiết kiệm việc xây dựng gần 800 cửa hàng thương mại và không phải sử dụng thêm ít nhất 6.000 suất biên chế hưởng lương Nhà nước. Người dân không còn phải đi quá xa hoặc xếp hàng quá lâu để mua gạo.

Ba Thi yêu cầu việc phân phối phải bảo đảm ba lợi ích: người tiêu dùng mua được gạo với giá hợp lý; đại lý có thu nhập chính đáng; Nhà nước bảo toàn được vốn để tiếp tục mua lương thực. Đây là cách nghĩ mới trong bối cảnh hoạt động kinh doanh vẫn thường bị nhìn nhận bằng sự dè dặt.

Mô hình nhanh chóng phát huy tác dụng. Theo Báo Quân đội nhân dân, trong hai năm, Công ty Lương thực Thành phố Hồ Chí Minh đã bán ra theo giá bảo đảm kinh doanh khoảng 127.000 tấn lương thực. Bình quân mỗi tháng, mỗi người dân mua được khoảng chín kilôgam gạo, với giá thấp hơn và chất lượng không thua kém gạo do tư thương bán trên thị trường.

Hoạt động của công ty cũng đối diện nhiều sức ép. Những người đầu cơ tìm cách mua vét gạo tại các đại lý, tung tin gây hoang mang và đẩy giá thị trường lên cao. Một số cán bộ bị đe dọa; riêng bà Ba Thi nhiều lần trở thành mục tiêu của những cuộc điện thoại uy hiếp.

Bên cạnh đó là các lời phê phán cho rằng bà đang “tranh mua, tranh bán” hoặc phá vỡ nguyên tắc quản lý lương thực. Nhưng Ba Thi và đồng nghiệp kiên trì dựa vào kết quả thực tế: gạo không còn khan hiếm như trước, giá cả từng bước ổn định và người dân thành phố có thể mua được lương thực.

Bản đồ trong phòng làm việc của bà chi chít những bóng đèn đánh dấu các điểm bán gạo. Người chứng kiến từng ví nó như tấm bản đồ tác chiến của một vị chỉ huy. Quả thật, với Ba Thi, đây là một chiến dịch mà mỗi cửa hàng là một vị trí phải giữ vững, mỗi chuyến xe là một tuyến tiếp tế và mục tiêu cuối cùng là bữa cơm của hơn bốn triệu người dân.

Điều đáng chú ý là công ty không chỉ hoàn thành nhiệm vụ xã hội. Trong năm 1981 đầy khó khăn, đơn vị vẫn nộp ngân sách 600 triệu đồng; đến năm 1984, con số này tăng lên gần hai tỷ đồng. Kết quả ấy chứng minh việc tôn trọng giá trị của hàng hóa và lợi ích của người sản xuất không đối lập với vai trò quản lý của Nhà nước.

Tháng 10 năm 1985, bà Ba Thi được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Những kinh nghiệm từ Công ty Lương thực Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một phần của thực tiễn “xé rào” trong thời kỳ trước Đổi mới. Chúng cho thấy nền kinh tế chỉ có thể vận hành khi người nông dân được trả giá hợp lý, hàng hóa được lưu thông và người quản lý dám chịu trách nhiệm trước cuộc sống của nhân dân.

Năm 1986, Đại hội VI của Đảng mở đầu công cuộc Đổi mới toàn diện. Ba Thi không phải người duy nhất tạo nên bước chuyển lịch sử ấy. Nhưng những chuyến đi mua gạo, mạng lưới 2.300 đại lý và 127.000 tấn lương thực được đưa đến người dân là những bằng chứng từ cuộc sống, góp phần chứng minh rằng cơ chế cũ cần phải thay đổi.

Nguyễn Thị Ráo qua đời năm 2002. Điều bà để lại không chỉ là một mô hình kinh doanh lương thực. Đó còn là bài học về một người cán bộ dám bước qua nỗi sợ bị phê bình, đặt bữa ăn của nhân dân lên trước sự an toàn của bản thân.

Trong chiến tranh, bà dùng vỏ bọc của người buôn gạo để làm liên lạc cho cách mạng. Trong hòa bình, bà lại theo những chuyến xe gạo để góp phần cứu thành phố khỏi thiếu ăn. Hơn bốn mươi năm trôi qua, hạt gạo vẫn nằm trong tay người phụ nữ ấy – lần đầu để giành độc lập và lần sau để hòa bình thực sự có mặt trong từng căn bếp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn