BÀ HAI - NGƯỜI CON GÁI KIÊN CƯỜNG - PHẦN 3: THÁNG NGÀY CỦA MÁU VÀ NƯỚC MẮT
Sau khi bị địch bắt, bà Hai bị đưa đến nhà tù Lồng Bò – nơi giam giữ khắc nghiệt với những buồng hầm chật hẹp, đầy chông nhọn và dây thép gai. Tại đây, bà liên tục chịu đựng các hình thức tra tấn dã man và bị biến thành "lá chắn sống" ban đêm, nhưng vẫn một mực giữ vững khí tiết. Sự kiên cường của bà còn được tiếp sức bởi những mẩu thư giấu trong bánh ít, bánh tét từ đồng đội bên ngoài gửi vào. Sau hai năm không khai thác được gì, địch chuyển bà sang nhà tù Phú Tài rồi buộc phải thả tự do sau đó 3 tháng. Bước ra khỏi tù với bộ quần áo tả tơi, bà trở về nhà nhờ tấm lòng cưu mang, chở miễn phí của một người tài xế xe lam giàu tình nghĩa.

Sau những ngày tháng hoạt động cách mạng, bà Hai bị địch bắt và chuyển hồ sơ về nhà tù Lồng Bò - nơi do lính Mỹ xây dựng để giam giữ, thẩm vấn và tra tấn những người mà chúng nghi ngờ có liên quan đến cách mạng. Khi ấy, trong nhà tù đang giam giữ gần cả ngàn người dân. Bà bị đưa xuống một buồng giam nằm sâu dưới hầm tối. Căn phòng vốn chỉ có sức chứa khoảng hai mươi người, nhưng địch còn cố tình ngăn cách, thu hẹp không gian đến mức mỗi người chỉ còn đủ chỗ để ngồi. Bên trên đầu là những hàng dây thép gai, đến mức chỉ cần đứng lên cũng có thể chạm phải; xung quanh tường lại được bố trí những mũi chông nhọn hướng vào phía trong. Tất cả được thiết kế nhằm hạn chế tối đa sự vận động, buộc những người bị giam phải sống trong một không gian chật hẹp, tù túng, qua đó làm nhụt chí và bẻ gãy ý chí của họ.
Ban ngày, từng người lần lượt bị gọi lên thẩm vấn. Địch dùng đủ mọi cách để buộc người dân phải khai báo, từ đánh đập đến dùng điện và nhiều hình thức hành hạ khác. Nhưng dù phải chịu đựng những trận đòn và những cuộc hỏi cung kéo dài, bà Hai vẫn một mực giữ kín những điều mình biết. Chúng nhiều lần đe dọa rằng nếu bà không khai thì sẽ phải “ngồi tù mục xương” ở đây. Bà chỉ bình tĩnh đáp lại: “Tui là người dân lương thiện, làm chiếu làm đồ. Ở nhà cha mẹ thì già. Các ông có đánh thì đánh chứ tui không có biết gì. Nếu cho tui về thì tui về, còn không cho thì tui ở đây.”
Đêm xuống, sự khắc nghiệt trong nhà tù lại hiện ra theo một cách khác. Địch bắt tất cả những người bị giam, từ người già đến trẻ nhỏ, từ đàn ông đến phụ nữ, phải cởi bỏ quần áo, giơ hai tay lên đầu và đứng trước hàng rào bảo vệ bên ngoài. Những con người không một tấc sắt trong tay bị biến thành một “bức tường người” che chắn cho chúng. Nếu lực lượng cách mạng tiến công vào nhà tù, chúng tính toán rằng những người bên ngoài sẽ không thể nổ súng vì sợ làm bị thương đồng bào; còn nếu có nổ súng thì những người bị bắt vẫn có thể trở thành những tấm lá chắn sống cho quân địch. Đến sáng, mọi người lại tự tìm nhặt quần áo của mình để mặc vào, tiếp tục một ngày mới trong cảnh giam cầm.
Với bà Hai, những cuộc hỏi cung cứ lặp đi lặp lại ngày này qua ngày khác. Có những hôm sau khi tra khảo, chúng lại lôi bà xuống hầm; có lần chúng còn bắt bà cởi quần áo, trói lên trần nhà để tiếp tục uy hiếp và hành hạ. Thế nhưng, qua hết lần này đến lần khác, bà vẫn không khai thêm bất cứ điều gì có lợi cho địch. Nhiều lần bà hai nhận được thông tin từ người nhà, từ bộ đội ta ở bên ngoài gửi vào bằng những đoạn giấy được giấu kín bên trong nhân của đồ ăn như bánh ít lá gai, một gốc bánh tét đã được bọc chặt kỹ càng hai đầu. Ban đêm chờ mọi người ngủ hết thì bà lén lấy các mẩu giấy ấy ra và đọc được các dòng tin nhắn được mọi người viết vào với rất nhiều nội dung: Nào là kể từ ngày mà em bị bắt thì tụi anh ngoài này vô cùng khó khăn trong việc truyền đạt tin tức, rồi thì ở nhà cũng gặp vô cùng nguy hiểm khi mà những người trực gác cũng bị địch bắt đi rất nhiều, còn tin tức về thân nhân trong gia đình,… mỗi lần đọc được những dòng nội dung ấy vừa khiến bà xúc động vừa khiến bà phải cố gắng tiếp tục chịu đựng để có ngày được ra khỏi nơi này.
Hai năm trôi qua trong cảnh tù đày, địch vẫn không thể khuất phục được người phụ nữ nhỏ bé nhưng cứng cỏi ấy.
Một hôm, chúng lại gọi bà lên như bao lần trước. Sau nhiều lần thẩm vấn nhưng không khai thác được thêm thông tin, địch quyết định chuyển hồ sơ của bà sang một nhà tù khác - nhà tù Phú Tài - với hy vọng tại đó có thể tiếp tục ép bà khai báo. Chúng lại đưa ra đủ lời hứa hẹn, rằng nếu bà chịu khai thì sẽ được thả về, còn nếu tiếp tục không khai thì sẽ phải ở tù cho đến già. Nhưng những lời đe dọa và dụ dỗ ấy vẫn không lay chuyển được bà.
Khoảng năm ngày sau, bà Hai cùng hồ sơ của mình được chuyển đến nhà tù Phú Tài. Khi tiếp nhận hồ sơ, những người quản lý tại đây thấy rằng trong suốt hai năm bị giam giữ ở Lồng Bò, bà không cung cấp cho địch bất kỳ thông tin có giá trị nào. Có lẽ chính sự kiên quyết ấy khiến chúng nhận thấy việc tiếp tục tra tấn cũng khó có thể khai thác được gì từ bà. Tại Phú Tài, bà chủ yếu bị giam giữ và thẩm vấn, không phải chịu những hình thức tra tấn khốc liệt như trước.
Khoảng ba tháng sau, nhận thấy không thể khai thác thêm được thông tin gì từ bà, địch quyết định thả bà về. Ngày bước ra khỏi nhà tù, bà Hai gần như không còn gì trên người ngoài bộ quần áo đã tả tơi sau những năm tháng tù đày. Trong người bà cũng không có lấy một đồng bạc. Không biết phải trở về nhà bằng cách nào, bà đi dọc đường rồi gặp một người tài xế đang chạy xe lam. Bà đánh bạo xin quá giang về nhà.
Người tài xế nghe hoàn cảnh của bà thì không hỏi han gì thêm. Ông thật thà nói rằng mình vẫn thường chở những người được thả từ nhà tù về nhà; chỉ cần nhìn thấy ai quần áo tả tơi đi lại gần khu vực này là ông hiểu họ vừa được địch trả tự do. Không chỉ chở bà Hai, ông còn đưa những người vừa được thả khác về tận nhà mà không đòi hỏi bất cứ khoản chi phí nào. Trong những năm tháng chiến tranh đầy khắc nghiệt ấy, sự tử tế giản dị của người tài xế trở thành một nghĩa tình đáng nhớ - bởi giữa những ngày tháng con người phải chịu quá nhiều mất mát và đau thương, đồng bào vẫn tìm cách cưu mang, giúp đỡ nhau trở về với gia đình.
Tác giả: Nguyễn Hoàng Chương
Đơn vị: Chi đoàn TDP Phương Mai



