Cựu chiến binh

BÀ HAI - NGƯỜI CON GÁI KIÊN CƯỜNG - PHẦN 4: BIỂN NHỚ - TRỜI THƯƠNG

a tù, bà Hai tìm lại người thương – ông Nguyễn Thống, người từng âm thầm gửi thư tiếp sức cho bà trong lao tù. Lúc này, ông Thống bị địch bắt đi lính và chuẩn bị chuyển sang lực lượng nhảy dù ở Khánh Hòa. Với tình yêu và lòng dũng cảm, bà Hai đã lặn lội tìm đến tận đồn địch, đóng giả làm vợ xin bảo lãnh cho ông, đồng thời đứng ra cam kết trách nhiệm trước cán bộ cách mạng. Đưa được người thương trở về an toàn, hai người chính thức nên duyên vợ chồng. Sau chiến tranh, ông bà chọn dừng chân tại Nha Trang (Khánh Hòa), cùng nhau vun đắp cuộc sống bình dị sau bao tháng ngày gian nan.

Khánh Hòa29/09/2026Đoàn phường Bắc Nha Trang (Phường Bắc Nha Trang)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
BÀ HAI - NGƯỜI CON GÁI KIÊN CƯỜNG - PHẦN 4: BIỂN NHỚ - TRỜI THƯƠNG

Sau những tháng ngày dài đằng đẵng trong nhà tù của địch, trải qua biết bao hình thức tra tấn cả về thể xác lẫn tinh thần, cuối cùng bà Hai cũng được trở về với vòng tay gia đình. Nhưng ngày trở về ấy không chỉ là ngày một người tù được tự do, mà còn là ngày bà tìm lại được những người thân yêu và một lời hẹn tưởng chừng đã bị chiến tranh vùi lấp. Trong số đó có người thương của bà - ông Nguyễn Thống, sinh năm 1945, quê ở Tam Quan, Bình Định, là người cùng quê và đặc biệt hơn là người cùng thôn với bà Hai.

Gia đình ông Thống có cha làm nghề biển, mẹ làm nông. Từ nhỏ, ông đã theo cha học nghề, học cách bám biển, theo những chuyến ghe của gia đình đi đánh bắt dọc theo vùng biển miền Trung, có khi vào tận Phú Yên, Khánh Hòa. Cũng từ những năm tháng còn niên thiếu, ông Thống và bà Hai đã biết đến nhau. Khi bà Hai bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng, thường xuyên làm công tác giao liên và phải di chuyển nhiều nơi, những lần tình cờ gặp ông Thống trên đường đi đã khiến tình cảm giữa hai người dần nảy nở.

Khi tình cảm đã chín muồi, hai người hứa hẹn sẽ nên duyên vợ chồng. Cả hai đã về ra mắt, xin phép hai bên gia đình và chỉ còn chờ ngày làm lễ giạm hỏi. Thế nhưng chiến tranh không cho họ một con đường bình yên. Trong lúc bà Hai tiếp tục hoạt động cách mạng, bà bị địch bắt, đưa đi giam giữ và tra khảo qua nhiều nhà tù. Lễ giạm hỏi của hai người vì thế chưa kịp diễn ra.

Mãi đến khi có người báo tin bà Hai bị chuyển về nhà tù Lồng Bò, ông Thống mới biết người mình thương đang bị địch giam giữ. Không thể trực tiếp đến gặp, ông tìm cách gửi thư cho bà, lén giấu những lá thư vào trong những phần đồ ăn được gửi vào nhà tù. Từng lá thư là một cách để hai người giữ liên lạc, để bà Hai biết rằng ở bên ngoài vẫn có người chờ đợi mình trở về. Nhưng rồi những tin tức ấy cũng dần đứt đoạn. Bà Hai bị chuyển từ Lồng Bò đến nhà tù Phú Tài, còn ở quê nhà, chiến tranh lại đưa ông Thống vào một hoàn cảnh khác.

Khi ấy, địch bắt ép những người trai tráng trong thôn phải đi lính cho chúng. Ông Thống cũng không phải ngoại lệ. Ông bị bắt đưa vào Khánh Hòa và buộc phải đầu quân cho địch ở Khu 2 lúc bấy giờ. Sau ba tháng huấn luyện tại quân trường, địch quyết định đưa ông vào lực lượng lính nhảy dù. Một người con trai vốn quen với nghề biển, chỉ mong được trở về với gia đình, nay lại bị đẩy vào một đội quân mà ông không tự nguyện lựa chọn.

Ngày bà Hai được thả khỏi nhà tù Phú Tài trở về quê, gia đình và người nhà ông Thống báo cho bà biết tin ông đã bị địch bắt đi lính ở Khánh Hòa. Họ còn cho bà xem thư ông gửi về nhà. Nghe tin ấy, bà Hai đã đưa ra một quyết định mà có lẽ chính bà cũng hiểu rằng mình đang đứng trước một sự lựa chọn đầy hiểm nguy.

Bà quyết định lên thôn tìm gặp các cán bộ và bộ đội của ta để xin đưa ông Thống trở về quê, để hai người có thể thực hiện lời hứa năm xưa - nên duyên vợ chồng. Bà hiểu rằng ông Thống đang ở trong hàng ngũ của địch, và cũng hiểu rằng nếu đưa ông trở về mà sau này ông chịu áp lực rồi khai báo thông tin của lực lượng ta thì hậu quả có thể rất lớn. Nhưng bà vẫn quyết tâm đến cùng. Bà xin các đồng chí cho ông được trở về và cam kết sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu sau này xảy ra chuyện.

Trong những ngày địch đang hoàn tất hồ sơ để chuyển ông Thống cùng những người khác sang đơn vị lính nhảy dù, bà Hai tìm đến đơn vị của địch và xin được gặp ông. Nhờ sự đồng ý của các cán bộ trên thôn, bà được giúp làm giấy tờ để có thể vào trong khu vực quân địch. Cầm giấy tờ trong tay, bà tìm đến nơi ông Thống đang bị giữ. Lính gác kiểm tra giấy tờ rồi hỏi bà:

- Cô là gì của người này?

Bà Hai bình tĩnh trả lời:

- Tui là vợ của ổng.Cha mẹ bệnh nặng không còn sống được bao lâu, tui lặn lội ở dưới quê lên để gặp và báo tin cho ổng biết.

Một câu nói ngắn gọn nhưng có lẽ chứa đựng tất cả những năm tháng chờ đợi của hai người. Được cho phép vào gặp, bà Hai và ông Thống cuối cùng cũng đứng trước mặt nhau sau những tháng ngày dài xa cách. Hai người cùng ôn lại những kỷ niệm của những ngày còn ở quê, những lần gặp nhau trong lúc bà Hai đi giao liên, những lời hẹn ước trước ngày chiến tranh chia cắt. Rồi bà nói với ông Thống về quyết định của mình: “Anh theo em về quê. Mình cưới nhau. Em đã nói chuyện với các cán bộ trên thôn rồi. Em đã thuyết phục và cam kết rằng anh chỉ bị địch ép đi lính, chứ anh không tự nguyện đi. Anh cũng sẽ không quay lưng lại với đồng bào, với các chiến sĩ của mình.”

Sau những lời thuyết phục của bà Hai, ông Thống đồng ý trở về. Nhưng trước mắt họ vẫn còn một cửa ải: phải tìm cách để quân địch cho ông rời khỏi đơn vị. Ông Thống tìm gặp sĩ quan cấp trên và trình bày rằng cha mẹ mình ở quê đang bệnh rất nặng, nay vợ đã lặn lội đường xa đến tận đây để báo tin và xin ông trở về nhà gấp. Quân địch kiểm tra giấy tờ một lần nữa. Sau một hồi xem xét, chúng đồng ý cho ông cùng bà Hai trở về.

Trở về đến quê, việc đầu tiên hai người làm không phải là tổ chức đám cưới ngay, mà tìm đến gặp các cán bộ của ta để trình bày rõ toàn bộ sự việc. Ông Thống khẳng định mình bị địch bắt ép đi lính và nay đã trở về. Còn bà Hai tiếp tục đứng ra cam kết cho người mình thương. Bà nói rằng nếu sau này ông Thống quay lưng lại với quân đội và nhân dân ta, bà cũng nguyện chịu trách nhiệm, thậm chí sẵn sàng hy sinh để giữ trọn lời cam kết của mình.

Sau khi mọi việc được làm rõ, hai người mới chính thức làm lễ cưới. Ông Thống không quay trở lại hàng ngũ của địch mà trở về với nghề biển của gia đình, tiếp tục cuộc sống của một người dân lao động. Còn bà Hai lại trở về với công việc của mình, tiếp tục những nhiệm vụ trực gác và công tác cách mạng cho đến những năm tháng về sau.

Chiến tranh rồi cũng đi qua. Những năm tháng chia lìa, tù đày và hiểm nguy cuối cùng cũng khép lại, nhường chỗ cho một cuộc sống bình dị hơn. Sau này, trong những chuyến đi biển vào Khánh Hòa, ông bà quyết định mua nhà ở khu vực Đồng Đế, thuộc xã Vĩnh Phước, nay là phường Bắc Nha Trang. Tại mảnh đất mới ấy, hai người bắt đầu cuộc sống gia đình, sinh con, nuôi dạy con cái và cùng nhau xây dựng một mái ấm.

Có lẽ, sau tất cả những gì đã trải qua, điều đáng nhớ nhất trong câu chuyện của bà Hai không chỉ là những năm tháng trong lao tù hay những nhiệm vụ giữa thời chiến, mà còn là cách bà giữ trọn lời hẹn với người mình thương. Giữa một thời đại mà chiến tranh có thể chia cắt gia đình, tình yêu và cuộc đời của biết bao con người, bà Hai và ông Thống cuối cùng vẫn tìm được đường trở về bên nhau - từ những ngày tháng gian nan, qua những lần xa cách, để rồi cùng xây dựng một mái nhà và bắt đầu lại cuộc đời trên vùng đất Khánh Hòa.

Tác giả: Nguyễn Hoàng Chương

Đơn vị: Chi đoàn TDP Phương Mai

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn