LỜI NÓI ĐẦU
Truyền thống quân đội ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đảnh thắng”1 (Trích bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi chiêu đãi mừng quân đội ta tròn 20 tuổi (22.12.1944 - 22.12.1964), Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 11 (1963-1965), Nxb CTQG, H.2002, tr.350). Trung thành với truyền thống đó, quân đội ta đã làm tròn nhiệm vụ chiến đấu giải phóng và bảo vệ đất nước, đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đặc biệt với hai dân tộc Lào và Campuchia, hai nước láng giềng, cùng có chung kẻ thù là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Tháng 4.1947, vừa tròn 18 tuổi, tôi vinh dự được đứng vào hàng ngũ Bộ đội Cụ Hồ. Ngót 50 năm trong quân ngũ, trừ 14 năm hoạt động công tác ở hậu phương, thời bình, còn lại 36 năm lăn lộn ở chiến trường, trong đó có 19 năm làm chiến sĩ tình nguyện quân chiến đấu trên chiến trường Campuchia, gắn liền nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc thiêng liêng với nghĩa vụ quốc tế cao cả.
Trong cả ba thời kỳ liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ bọn phản động, diệt chủng Pôn Pốt, tôi đều có mặt trên chiến trường Campuchia, góp phần nhỏ công sức vào việc thực hiện đường lối quốc tế của Đảng, lời dạy “giúp nhân dân nước bạn là mình tự giúp mình” của Bác Hồ, vào truyền thống của Quân đội nhân dân anh hùng và xây đắp tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Campuchia.
Với cuốn sách “Ba lần gắn bó với đất nước Chùa Tháp" này, tôi muốn kể lại những gì tôi đã trải qua trong những năm tháng đầy tình nghĩa mặn nồng chung thủy của nhân dân và cách mạng Campuchia đối với người chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam được xây đắp, vun vén bằng xương máu và lòng nhân hậu của cả hai dân tộc.
Nhưng với một không gian rộng và thời gian khả dài, nhiều sự kiện không thể nhớ đầy đủ, chính xác được và khả năng cũng có hạn, nên chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, mong các vị độc giả gần xa thông cảm và lượng thứ, góp ý bổ sung để cuốn sách được hoàn hảo hơn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn.
Thiếu tướng Phùng Đình Ấm | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp« Trả lời #2 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2021, 03:08:29 pm » | I. Đất nước Campuchia
1. Mối quan hệ lâu đời giữa hai dân tộc
Đất nuớc Campuchia nằm trên bán đảo Đông Dương, rộng 181.000 km2, biên giới gắn liền với hai nước Việt Nam và Lào, có chung dòng sông Mêkông hùng vĩ và dựa lưng vào dãy Trường Sơn trùng điệp.
Campuchia là một Vương quốc, trong lịch sử dân tộc có thời kỳ hưng thịnh với nền văn hóa Ăngkor phát triển rực rỡ huy hoàng. Tự hào là một đất nước Chùa Tháp, với nhiều đền đài đồ sộ trải qua các thế hệ: Ăngkor Thôm và Ăngkor Wat, thời xưa Việt Nam gọi là “Đế Thiên”, “Đế Thích”, là hai đền đài nổi tiếng, liệt vào hạng “kỳ quan thứ bảy” của thế giới. Là một nước, theo thống kê năm 1945 có dân số hơn 4 triệu người, với 21 dân tộc, trong đó dân tộc Khme là đông hơn cả. Hơn 90% nhân dân Campuchia theo đạo Phật, cả nước tôn đạo Phật là “Quốc giáo độc tôn”. Nền kinh tế Campuchia giàu tài nguyên nhưng chưa được khai thác. Quốc trưởng Sihanúc thường nói: “Nền kinh tế Campuchia dựa vào hai bầu sữa là nông nghiệp và du lịch”.
Do đất đai, sông núi, biên giới liền nhau, nên từ lâu đời nhân dân Việt Nam - Campuchia nói chung có mối quan hệ mật thiết với nhau trong làm ăn sinh sống cũng như trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước. Ngược dòng lịch sử, từ thời xa xưa các triều đại phong kiến của hai nước cũng có những liên minh chiến đấu chống quân xâm lược và có mối quan hệ hữu hảo: năm 1618, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã gả con gái thứ hai của mình là Ngọc Vạn công chúa, cho vua Chey Chella II của Campuchia. Năm 1962, Ngọc Vạn công chúa được phong làm Hoàng hậu, với danh hiệu Somđech Préa Pcáccácyo Dey Préavorcác Ksattrey. Năm 1705, quân Xiêm xâm lược Campuchia, vua Nặc Ông Yêm của Campuchia sang Việt Nam liên minh với chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn cử Cai cơ Nguyễn Cửu Vân sang giúp đánh bại quân Xiêm, xong rút quân về nước. Năm 1772, quân Xiêm kéo sang đánh chiếm Hà Tiên của Việt Nam và Phnôm Pênh của Campuchia. Chúa Nguyễn đánh tan quân Xiêm ở Hà Tiên và cử tướng Nguyễn Hữu Đàm đưa quân thủy bộ lên phối hợp với Campuchia đánh tan quân Xiêm khỏi Phnôm Pênh rồi rút về nước. Năm 1785, quân Xiêm đưa 4 vạn thủy quân sang lấy danh nghĩa cứu viện cho Nguyễn Ánh, bị quân Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ, vị anh hùng thiên tài quân sự, áo vải cờ đào đánh cho đại bại, tan tác ở Rạch Gầm - Xoài Mút (Mỹ Tho). Một bộ phận quân Xiêm sống sót đã bỏ ghe, thuyền, chạy bộ băng qua đất Campuchia để thoát về nước, đã bị quân và dân Campuchia phối hợp với Việt Nam chặn đánh, gây cho chúng thiệt hại, chẳng còn được mấy tên chạy thoát. Đầu thế kỷ XIX, năm 1807, quân Xiêm lại xâm chiếm Campuchia. Theo yêu cầu của vua Angchan II, tướng Lê Văn Duyệt từ thành Gia Định đưa quân sang chi viện, đánh đuổi quân Xiêm, khôi phục độc lập chủ quyền cho Campuchia, xong rút hết quân về nước1 (Sau này kẻ xấu bịa ra chuyện quân tướng Lê Văn Duyệt lên Campuchia, chặt đầu người Khme chụm lại làm ông táo nấu nước chè (trà) để uống, thành một truyền thuyết gọi là "tức tè ôông". Bọn Pôn Pốt lợi dụng truyền thuyết này để kích động tâm lý hận thù Việt Nam trong nhân dân Campuchia).
Bên cạnh những cuộc liên minh đã đi vào huyền thoại ấy, trong quan hệ cư trú làm ăn giữa hai dân tộc cũng ngày càng tốt đẹp. Đến năm 1945, trong tổng số hơn 4 triệu dân Campuchia có đến 350.000 Việt Kiều làm ăn sinh sống và mang quốc tịch của Vương quốc. Giữa người Campuchia và người Việt Nam còn có nhiều mối quan hệ hôn nhân, gia đình, nhiều mối tình đầy hạnh phúc nảy nở trong mối quan hệ hữu hảo giữa hai dân tộc.
Giữa thế kỷ XIX, ba nước Việt - Campuchia - Lào bắt đầu nằm vào lăng kính nhòm ngó của một số nước Phương Tây. Nguyễn Ánh, đưa con là hoàng tử Cảnh sang Pháp làm con tin, để viện binh đánh Tây Sơn. Từ đó thực dân Pháp từng bước tiến hành âm mưu xâm chiếm ba nước. Việt - Campuchia - Lào cùng có kẻ thù chung. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp« Trả lời #3 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2021, 03:09:18 pm » | 2. Ba nước Đông Dương đoàn kết chống kẻ thù chung
Ngày 1.9.1858, thực dân Pháp và quân liên minh Tây Ban Nha đưa 2.500 quân với 13 chiến thuyền, trang bị hiện đại đổ bộ đánh chiếm Đà Nẵng, với ý đồ vượt Hải Vân, chiếm kinh thành Huế, buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng. Nhưng chúng bị quân dân ta chặn đánh, không thực hiện được ý đồ, chúng phải từ bỏ kế hoạch và chuyển vào tấn công Gia Định. Tháng 2.1859, bước chân xâm lược đầu tiên của giặc Pháp và liên quân Tây Ban Nha đặt lên đất Gia Định, bị 5.800 nông dân với gươm giáo, gậy gộc phối hợp với lính triều đình chống lại. Năm 1861, đồn Kỳ Hòa của Gia Định bị thất thủ. Trong lúc nhân dân Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Trung Trực, Trương Định, Thủ Khoa Huân chống Pháp, thì triều đình nhà Nguyễn khiếp nhược, thậm chí cản trở cuộc chiến đấu của nghĩa quân.
Ngày 5.6.1862, triều đình Tự Đức cử Phan Thanh Giản làm chánh sứ và Lâm Duy Hiệp làm phó sứ, dại diện triều đình mở cuộc ký “Hòa ước 1862” gồm 12 điều khoản với đoàn đại diện nước Pháp, cắt 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) giao cho thực dân Pháp, trước sự căm phẫn của nghĩa quân và nhân dân các tỉnh phía Nam. Cái câu “Phan - Lâm mãi quốc, Triều đình khi dân!” mãi mãi đi vào lịch sử của dân tộc.
Sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông của Việt Nam, thực dân Pháp nghĩ ngay đến Campuchia. Ngày 11.8.1863, đô đốc Đơ la Gơ-răng-đi-e (De La Grandière) đến Phnôm Pênh uy hiếp vua Nôrôđôm, bắt buộc phải ký hiệp ước “Bảo hộ”, để người Pháp được tự do đi lại, truyền đạo, buôn bán và cư trú trên đất Campuchia và đặt một “Khâm sai bên cạnh nhà vua để thực hiện quyền Bảo hộ của nước Pháp”.
Ngày 6.6.1884, triều đình nhà Nguyễn hoàn toàn bất lực, bị thực dân Pháp buộc phải đầu hàng và ký một hiệp ước đặt toàn bộ nước Việt Nam dưới quyền bảo hộ của chúng.
Lập tức, đêm 17.6.1884 một phái đoàn Pháp có bộ binh đi kèm, xông thẳng vào Hoàng cung, đến tận nơi vua Nôrôđôm đang ngủ, buộc phải ký văn bản điều ước 11 điểm chúng vạch sẵn, đặt quyền bảo hộ hoàn toàn đất nước Campuchia.
Sau khi đã chiếm hai nước Việt Nam, Campuchia, đến 1893 quân Pháp đánh chiếm nước Lào, đặt ba nước dưới quyền cai trị của toàn quyền Đông Dương (Ba nước Đông Dương còn có tên là Đông Pháp)
Từ đó, ba nước Việt, Campuchia, Lào cùng chịu một ách thống trị, một kẻ thù chung là thực dân Pháp. Trong suốt hơn 80 năm nô lệ, nhân dân ba nước liên tục có những cuộc khởi nghĩa vũ trang của những người yêu nước lãnh đạo. Có những cuộc có sự liên minh chặt chẽ với nhau, như cuộc khởi nghĩa của Achar Svar (1864-1866) phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Hữu Huân (Thủ Khoa Huân) ở Châu Đốc, Hà Tiên (Việt Nam) và Kampốt (Campuchia). Cuộc nổi dậy của Achar Pôkômpô (1865-1867) phối hợp với nghĩa quân của Trương Quyền ở Tây Ninh. Liên quân Khơme - Việt, tiến công tiêu diệt trại lính Pháp ở Tây Ninh, sau đó 2 bên hoạt động để hỗ trợ phong trào cho nhau. Cuộc nổi dậy của Sivottha (1885-1895) liên minh với nghĩa quân Việt Nam đánh chiếm Kampốt rồi đánh sang Hà Tiên ...
Từ khi Đảng ta ra đời, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập đã nhận rõ ba nước Đông Dương cùng có chung kẻ thù, mỗi nước không thể giành thắng lợi, giải phóng riêng cho mình được. Đầu năm 1930, trong thư gởi những người Cộng sản Đông Dương, Quốc tế Cộng sản đã khẳng định: “Nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của những người Cộng sản Đông Dương là sáng lập một Đảng có tính chất quần chúng ở Đông Dương”. Trong Nghị quyết Hội nghị 8 của Trung ương Đảng (khóa I) cũng đã viết: “Pháp, Nhật ngày nay không chỉ là kẻ thù của Công Nông mà còn là kẻ thù chung của dân tộc Đông Dương. Trong lúc này, khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp, Nhật”.
Vì cùng chung một kẻ thù, cùng chung một cảnh ngộ mất nước và làm nô lệ cho thực dân Pháp, nên để đánh bại thực dân Pháp, giải phóng cho ba nước và cho mỗi nước, ba dân tộc Đông Dương phải liên minh nhau lại, chịu sự lãnh đạo của một Đảng. Trong kháng chiến đánh Pháp, Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương đã chỉ rõ: “Về quân sự, Việt Nam - Lào - Campuchia là một chiến trường, phải đánh theo một chiến lược chung”. Hồ Chủ tịch, vị cha già của dân tộc và Quân đội ta cũng thường nhắc: “Giúp bạn cũng là tự giúp mình, Việt Nam kháng chiến có thành công thì Lào, Miên (Campuchia) mới thắng lợi và Lào, Miên có thắng lợi thì Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi!”1 (Trong Hội nghị liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương họp tháng 9-1952, Hồ Chủ tịch nói: "Việt Nam, Lào, Miên như anh em một nhà. Cả ba dân tộc đoàn kết chặt chẽ thì nhất định đánh bại thực dân Pháp. Nhân dân Việt Nam hết lòng thành thật giúp đỡ nhân dân Lào, nhân dân Miên một cách vô điều kiện. Sự thật thì chưa tìm ra chữ gì thay thế chữ "giúp", chứ thật ra không phải là "giúp", mà là nghĩa vụ quốc tế (tổng kết kháng chiến chống Pháp)).
Thấm nhuần quan điểm quốc tế của Đảng và Bác Hồ: “giúp bạn là tự giúp mình”, “nghĩa vụ quốc tế gắn liền với lợi ích dân tộc”, đoàn kết với nhân dân Lào, Campuchia cùng chống kẻ thù chung là một trong những truyền thống vẻ vang của quân đội nhân dân Việt Nam. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2021, 08:51:52 pm » | II. Trên đất nước Chùa Tháp (lần thứ nhất)
1. Vượt Trường Sơn
Sau chiến dịch hè 1950 của nam Tây Nguyên kết thúc, Tiểu Đoàn 365 - Tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn 803, chủ lực của Liên khu 5, rút về Phú Yên để củng cố và xây dựng, được lệnh tách ra một bộ phận nòng cốt, từ tổ trưởng tổ 3/3 đến các cấp tiểu đội, trung đội, đại đội đến tiểu đoàn, để tiếp nhận tân binh của các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi tổ chức huấn luyện, thành lập tiểu đoàn thứ 2, lấy phiên hiệu là 365B, gồm các đại đội 211B, 212B và 213B cùng cơ quan Tiểu đoàn bộ. Đồng chí Bùi Dư (có biệt hiệu là “Dư u”) sang làm quyền chính trị viên Tiểu Đoàn. Tôi, nguyên là Trưởng Ban công tác Chính trị Đại đội 212, được Liên khu đề bạt làm Chính trị viên đại đội 212B và sau đó, đại đội 212 B được liên khu 5 điều động bổ sung trực thuộc Trung đoàn 84 Tây Nguyên, để chuẩn bị biệt phái sang làm nghĩa vụ quốc tế ở chiến trường Đông Bắc Campuchia (lúc đó gọi là Đông bắc Miên), giúp bạn kháng chiến chống Pháp.
Ý định của cấp trên là trong thời gian đại đội 212B tổ chức huấn luyện và xây dựng đơn vị hoàn chỉnh, trung đoàn 84 đưa một đội vũ trang tuyên truyền đi trước mở đường và đại đội 212B sẽ tiến theo sau, xuyên qua vùng địch hậu nam Tây Nguyên, tiến qua vùng Bô Khâm - Bô Keo bên kia biên giới Việt Nam - Campuchia.
Những ngày đầu xây dựng đại đội 212B, Ban chỉ huy đại đội chỉ có mình tôi phải lo cả về quân sự và chính trị. Ba tháng sau, Liên khu 5 bổ sung về đại đội trưởng Hồ Quang Trung, từ chiến trường Quảng Nam vào. Anh quê ở Đà Nẵng, tham gia “tiếp phòng quân” từ đầu 1946. Tuổi lớn hơn tôi một con giáp, người cao to, vốn là một cầu thủ bóng đá của đội bóng đá Đà Nẵng từ hồi Pháp thuộc. Chúng tôi sống chung và công tác với nhau rất tâm đầu ý hợp. Về tuổi tác chênh lệch nhau, chúng tôi đối xử với nhau như hai anh em. Nhờ thế, đơn vị rất mau tiến bộ, trưởng thành.
Sau 3 tháng huấn luyện quân sự và học tập chính trị, chúng tôi chuyển quân từ Tuy Hòa ra Đồng Xuân, trú quân tại làng Tân Lập, xã Xuân Sơn, Hà Bằng, ăn Tết Canh Dần và chuẩn bị lên đường sang Đông Bắc Campuchia. Ăn tết xong, mệnh lệnh hành quân có thay đổi. Cấp trên cho biết, con đường xuyên qua nam Tây Nguyên để đến Đông Bắc Campuchia còn gặp khó khăn chưa thể thực hiện được, trong khi chiến trường đòi hỏi sự có mặt của lực lượng vũ trang tăng cường sớm. Bộ Tư lệnh Liên khu 5 quyết định đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam ở Đông Bắc Campuchia nhanh chóng sử dụng con đường xuyên qua Hạ Lào để đến chiến trường. Thế là chúng tôi rời Xuân Sơn - Hà Bằng, tạm biệt Phú Yên đầy kỷ niệm thân thương để làm cuộc hành quân, kết hợp cả phương tiện “xe goòng” (Wa-gông xe lửa cải tạo thành xe chạy trên đường ray sắt do người đẩy) và đi bộ ra Bình Định, trú quân tại An Thường, cách Bồng Sơn hơn 10 cây số về phía tây, để tiếp tục công việc chuẩn bị.
Ở đây, đơn vị được đón đồng chí Bùi San - Phó Bí thư Liên khu ủy 5 đến thăm. Đồng chí giáo dục chúng tôi về tinh thần quốc tế vô sản và vinh dự của một chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam, chiến đấu vì nhân dân ba nước Đông Dương, cùng kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Pháp. Tất cả chúng tôi, cán bộ cũng như chiến sĩ, ai nấy đều khắc cốt ghi tâm lời huấn thị ấy và hăm hở mong được sớm lên đường. Riêng tôi, ngoài những nhận thức được Đảng dạy dỗ, tôi còn có cái háo hức của một cán bộ trẻ với tuổi hai mươi hai. Tôi muốn làm một chuyến đi xa, xa đặc biệt cho thỏa thích lòng ham muốn hiểu biết những chuyện lạ ở cái xứ gọi là “đất Chùa Tháp” này. Tôi quyết định giấu hẳn về chuyến đi xa với nhiệm vụ đặc biệt ấy, không cho mẹ tôi biết. Sợ rằng mẹ sẽ không muốn cho tôi đi xa, mẹ sẽ tìm đến đơn vị, sẽ khóc, sẽ khuyên tôi xin cấp trên ở lại Việt Nam, chiến đấu trên bất cứ chiến trường nào (vì quan niệm của người dân lúc này nghe nói “đi Miên, đi Lèo (Lào)” là cái gì ghê gớm lắm). Nhưng rồi mẹ tôi cũng phát hiện ra địa điểm trú quân của tôi và đến thăm. Mẹ con được sống cạnh nhau hai ngày. Hiểu ý tôi, suốt hai ngày mẹ không khóc, cũng không hé một lời nào cản bước tôi. Mẹ chỉ cầu mong tôi ra đi chân cứng đá mềm, đến chiến trường vạn sự bình an. Một ước ao da diết của mẹ là muốn sớm có cháu nội. Tôi nhớ lại, cái hồi đầu năm 1947, nghe tin đơn vị tôi ở Bồng Sơn, sắp hành quân vào mặt trận Phú Khánh, mẹ tôi cũng tìm đến thăm, gặp lúc đơn vị tôi xảy ra sự cố, vì một bất cẩn làm nổ quả mìn tự tạo bằng quả đạn 105 ly, cả tổ mìn không một ai sống sót. Tôi ngỡ là mẹ sẽ run sợ, có thái độ làm nhụt ý chí tôi trước khi lên đường. Nhưng không, mẹ tôi vẫn bình tĩnh, khuyên tôi an tâm lên đường, hết lòng chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ. Lần này cũng vậy, tôi càng hiểu hơn tấm lòng của mẹ. Mẹ là một bà mẹ dũng cảm, đã nâng bước chân tôi ra chiến trường hết sức thanh thản, đầy nghị lực. Tôi vô cùng biết ơn mẹ. Mẹ đã cho tôi dũng khí trước khi lên đường đến chiến trường xa.
Gần tới ngày hành quân ra Quảng Nam, cấp trên bổ sung Ban chỉ huy Đại đội 212B hai đại đội phó là đồng chí Thái Mật và Phan Văn Dưỡng. Đồng chí Phan Trử được bổ sung làm Trưởng Ban công tác chính trị đại đội (bộ đội lúc này chưa có biên chế cấp Phó Chính trị viên)
Đến Quảng Nam, sau khi chuẩn bị chu đáo, chúng tôi làm một cuộc hành quân dài ngày. Từ Tam Kỳ qua Đèo Le, lên Sé, đến Bến Giằng và bắt đầu trèo núi, vượt đỉnh Trường Sơn. Cùng hành quân với chúng tôi có một Đại đội thứ 2, hầu hết là cán bộ Dân, Chính, Đảng và một bộ phận cơ quan của Quân tình nguyện Việt Nam ở Đông Bắc Campuchia, do đồng chí Võ Toàn (đồng chí Võ Chí Công) và đồng chí Trần Hoài Ân (sau này là Thiếu tướng, đã mất) lãnh đạo.
Cuộc hành quân khá vất vả. Đại đội 212 B chúng tôi hầu hết là chiến sĩ mới, tuy được huấn luyện bài bản, nhưng chưa tham gia chiến đấu. Đây là lần đầu tiên các chiến sĩ trẻ lên đường ra trận, lại đi đến chiến trường xa, vượt qua bao sông núi, có những dốc cao chót vót như đỉnh núi Công-tơrơn, Tăng Đam, Aró, Đắk Úc... những trận mưa đầu mùa đổ xuống làm đường trơn như mỡ, từng đàn vắt lổm ngổm, bu bám trông rất tởm, có người bị vắt cắn chảy máu đỏ cả bàn chân... thế nhưng tất cả đều hăng hái, suốt tháng trời hành quân chỉ rơi rớt lại năm, bảy đồng chí vì đuối sức. Nhưng khi khỏe lại, anh em vẫn tích cực đuổi kịp đơn vị. Ai cũng mong nhanh chóng vượt đỉnh Trường Sơn, đến chiến trường nước bạn.
Rời Hạ Lào, chúng tôi vượt sông Mê Kông bằng những chiếc thuyền độc mộc và hành quân một ngày đường nữa mới tới được địa đầu Đông Bắc Campuchia.
Làng đầu tiên chúng tôi dừng chân ở Đông Bắc Campuchia là Na Va và Khâm Phốc, thuộc huyện Siêm Pang, tỉnh Stưng Treng. Stưng Treng có nghĩa là sông nhiều cây đế. Ở đây cũng như ở Hạ Lào, đồng bào đón chúng tôi như những người thân. Đồng bào không cho chúng tôi nấu cơm chiều, mỗi nhà đều bưng cơm và thức ăn đến để nuôi bộ đội Ít-xa-rắc (theo tiếng Balây, Ít-xa-rắc có nghĩa là tự do). Đồng bào nói: “Chúng con là Việt Nam, nhưng đã tình nguyện sang đây, đoàn kết với nhân dân Campuchia đánh đuổi thằng Phalăng (tức giặc Pháp) thì các con cũng đều là bộ đội Ít-xa-rắc cả thôi!”
Những ngày đầu tiên đến Đông Bắc Campuchia, chúng tôi rất phấn khởi trước phong trào chung của Miền. Được sự giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam, phối hợp với lực lượng kháng chiến Campuchia, cơ sở cách mạng đang mở rộng. Phum, bản (làng) nào cũng có chính quyền Ít-xa-rắc, dù chỉ mới là tổ chức. Ủy ban dân tộc giải phóng ở các Huyện Siêm Pang, Vơnsai, Bôkeo... đã có điều kiện thành lập. Thời cơ Ủy ban Dân tộc Giải phóng miền Đông Bắc Campchia ra mắt nhân dân đã chín muồi. Đó là thành quả của đại đội 105 và các tổ võ trang tuyên truyền do các đồng chí Quỳnh, Cận, Ngọc, Nhãn, Tài, Mưu, Đường (sau này đồng chí Đường được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) phụ trách, dưới sự chỉ huy của đồng chí Tống Đình Phương, Trần Thanh Hòe, cùng đồng chí Xi Đà cán bộ Campuchia tiến lên đây từ đầu năm 1950. Lực lượng chúng tôi đến là nhằm thêm sức mạnh để phát huy thành quả đó, đưa vùng Đông Bắc theo kịp phong trào Ít-xa-rắc chung cả nước. Do đó, sau cuộc hội nghị cán bộ tại làng Chăn Tú, thành lập Ban cán sự Đảng và tổ chức Ủy ban dân tộc giải phóng miền Đông Bắc Campuchia xong, Ban cán sự giải thể đại đội 212B, chúng tôi đưa đi tăng cường cho các chiến trường... có bộ phận về Vơn Sai, Bô Keo, Lom Phát thuộc Rát-ta-na-ki-ri ngày nay. Có bộ phận ở lại Xiêm Pang, hoặc sang Pha-la-khanh thuộc tỉnh Stưng Treng. Đặc biệt, có một trung đội được điều động về tây sông Mê Công, sang hoạt động tận Kông Pông Thơm, theo lời yêu cầu của các đồng chí Ít-xa-rắc vùng Tây Bắc. Ở đây, phong trào quần chúng kháng chiến chống Pháp mạnh nhưng lực lượng vũ trang còn hạn chế, cần được tăng cường. Trung đội này do đồng chí Võ Thể làm trung đội trưởng và đồng chí Nguyễn Thần làm Trung đội phó. Chúng tôi chia tay nhau trong niềm lưu luyến khôn nguôi. |
|
|