Cựu chiến binh

bà Lê Thị Mười - Một thời hoa Lửa

Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc, có biết bao con người đã âm thầm hiến dâng cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Họ không chỉ là những chiến sĩ kiên cường nơi tiền tuyến, mà còn là những con người bình dị mang trong tim một lý tưởng lớn lao. Bà nội tôi – bà Lê Thị Mười – là một người như thế. Cuộc đời bà là một bản anh hùng ca thầm lặng, được viết nên bằng ý chí kiên cường, lòng trung thành và sự hy sinh không gì sánh nổi.

Thanh Hóa31/03/2026Giáo viên: Nguyễn Thị Tú Loan (Trường Tiểu học Thuận Minh.)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc, có biết bao con người đã âm thầm hiến dâng cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Họ không chỉ là những chiến sĩ kiên cường nơi tiền tuyến, mà còn là những con người bình dị mang trong tim một lý tưởng lớn lao. Bà nội tôi – bà Lê Thị Mười – là một người như thế. Cuộc đời bà là một bản anh hùng ca thầm lặng, được viết nên bằng ý chí kiên cường, lòng trung thành và sự hy sinh không gì sánh nổi.

Bà sinh năm 1918 trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Ngay từ thuở ấu thơ, bà đã lớn lên trong những câu chuyện đầy nhiệt huyết cách mạng của cha – ông Lê Đình Dương, một người chiến sĩ kiên trung, có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và con đường mà bà lựa chọn sau này. Ngay từ khi còn nhỏ, bà đã được nghe cha kể về tinh thần đấu tranh chống áp bức, về lòng yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc.

Ông Lê Đình Dương sớm tham gia Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, và là một trong 7 đảng viên đầu tiên của huyện Thọ Xuân được kết nạp vào Đảng tại nhà ông Lê Văn Sỹ (Làng Yên Trường, xã Thọ Lập). Trong quá trình hoạt động ông đã bị địch bắt đi tù 2 lần, những lần bị tù đày, tra tấn của ông không làm ông khuất phục, mà ngược lại, càng hun đúc thêm tinh thần bất khuất. Sau khi mãn hạn tù trở về, ông không hề nao núng mà tiếp tục tổ chức, lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh chống lại địa chủ, cường hào, bảo vệ quyền lợi cho người dân lao động, ông hoạt động tích cực trong mặt trận Việt Minh, góp phần vào phong trào cách mạng của địa phương. Không chỉ là người chiến sĩ kiên trung, ông còn là người cha có ảnh hưởng lớn đến các con. Dưới sự giáo dục của ông, các con đều đi theo con đường cách mạng, tiêu biểu như bà Lê Thị Mười, ông Lê Đình Hiển, ông Lê Đình Khải, Lê Đình Linh.

Chính từ mái ấm gia đình ấy, bà Lê Thị Mười đã được nuôi dưỡng lòng yêu nước, ý chí đấu tranh và sự căm thù sâu sắc đối với áp bức, bất công. Những lời kể của cha không chỉ là ký ức, mà trở thành ngọn lửa âm ỉ cháy trong trái tim bà, soi sáng con đường mà bà lựa chọn sau này.

Tháng 7 năm 1937, khi tuổi đời còn rất trẻ, bà chính thức tham gia cách mạng tại thôn Yên Lược, tổng Quảng An. Từ đó, cuộc đời bà gắn liền với những năm tháng hoạt động không ngừng nghỉ. Bà từng đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng như tổ trưởng phụ nữ cứu quốc, bí thư phụ nữ tổng, rồi bí thư phụ nữ huyện Thọ Xuân. Ở bất cứ vị trí nào, bà cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, sự tận tụy và lòng dũng cảm hiếm có.

Nhưng con đường cách mạng chưa bao giờ là dễ dàng. Đó là con đường của máu, nước mắt và sự thử thách khắc nghiệt.

Trong suốt quá trình hoạt động, bà đã ba lần bị địch bắt. Mỗi lần là một lần đối diện với tra tấn dã man, với ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Năm 1940, bà làm bí thư phụ nữ cứu quốc huyện Thọ Xuân( bí mật) bà bị bắt, bị đánh đập suốt 30 ngày nhưng bà không khai báo gì nên bà được thả cho về. Cũng trong năm ấy, bà bị bắt lần thứ hai, bị tra tấn đến mức phải tuyệt thực, nhưng vẫn một mực giữ vững khí tiết của người cách mạng, không đủ chứng lý làm án nên chúng phải tha về .

Đỉnh điểm là tháng 9 năm 1941, tại chiến khu Ngọc Trạo, bà bị bắt lần thứ ba. Kẻ thù dùng mọi cực hình tàn bạo nhất ( đánh đập chích điện) nhưng không thể khuất phục được ý chí của bà. Trước sự im lặng kiên cường ấy, chúng đã kết án bà 13 năm tù giam.

Những năm tháng bị giam cầm tại nhà lao Thanh Hóa từ 1941 đến 1945 là những ngày tháng đen tối nhất, nhưng cũng rực sáng nhất trong cuộc đời bà. Trong xiềng xích, bà vẫn giữ vững niềm tin vào cách mạng, vào ngày đất nước được giải phóng. Và rồi ngày ấy cũng đến, khi Nhật đảo chính Pháp, bà được trả tự do.

Trở về từ ngục tù, bà không nghỉ ngơi mà lập tức tiếp tục hoạt động, củng cố cơ sở cách mạng, chuẩn bị cho khởi nghĩa. Sau Cách mạng Tháng Tám, bà được giao nhiều trọng trách: Phó Bí thư phụ nữ huyện Thọ Xuân, ủy viên Ban Chấp hành phụ nữ tỉnh Thanh Hóa, phụ trách phụ nữ huyện Nông Cống. Năm 1960, bà lên Tây Bắc, làm cán bộ phụ nữ tỉnh Lai Châu. Dù ở bất cứ nơi đâu, bà cũng luôn hết lòng vì công việc, vì nhân dân.

Bà đã dành trọn tuổi trẻ, tuổi thanh xuân cho cách mạng. Mãi đến khi ngoài 30 tuổi, bà mới xây dựng gia đình với ông Nguyễn Tiến Chức – một chiến sĩ Việt Minh. Không chỉ là bạn đời, hai ông bà còn là những người đồng chí chung lý tưởng, cùng chung một con đường cách mạng. Trong những năm tháng gian khó, họ luôn kề vai sát cánh. Dù cuộc sống thiếu thốn, hiểm nguy luôn rình rập, nhưng ngọn lửa yêu nước trong hai ông bà chưa bao giờ tắt. Ông tham gia hoạt động, được Trung ương cử lên vùng Tây Bắc công tác. Bà ở nhà vừa hoạt động cách mạng, vừa chăm con, lo cho gia đình để chồng yên tâm công tác. Chính sự đồng lòng, son sắt ấy đã góp phần tạo nên sức mạnh để họ cùng nhau đi qua những năm tháng “hoa lửa”, viết nên một câu chuyện đẹp về tình yêu gắn liền với lý tưởng cách mạng.

Tại mảnh đất Thọ Minh huyện Thọ Xuân ( nay là xã Thọ Lập tỉnh Thanh Hóa), đây là một gia đình đặc biệt – một gia đình cách mạng tiêu biểu, nơi bốn con người đều là Lão thành cách mạng: Bà Lê Thị Mười, ông Lê Đình Dương (bố đẻ); ông Nguyễn Tiến Chức ( chồng), ông Lê Đình Hiển (em trai). Ở họ hội tụ chung một lý tưởng, chung một niềm tin son sắt vào con đường cách mạng, tạo nên một mái ấm mà mỗi thành viên đều là một chiến sĩ, cùng nhau cống hiến trọn đời cho Tổ quốc.

Thế nhưng, phía sau những cống hiến lớn lao ấy là không ít mất mát, hy sinh. Cuộc đời bà không chỉ được viết nên bằng những trang vàng cách mạng, mà còn thấm đẫm những nỗi đau riêng. Người con trai của bà – liệt sĩ Nguyễn Tiến Chinh (1953–1978) – đã anh dũng ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc; một người con khác mang trên mình thương tật chiến tranh, trở về từ khói lửa với những dấu tích không thể xóa nhòa. Những hy sinh ấy càng làm sáng ngời hơn tinh thần cách mạng kiên trung của cả gia đình – một gia đình đã hiến dâng không chỉ tuổi xuân, mà cả máu xương cho đất nước.

Trong quá trình hoạt động cách mạng bà đã được nhà nước trao tặng nhiều Huân chương Kháng chiến, Huân chương Độc lập, Kỷ niệm chương Chiến sĩ Cách mạng bị địch bắt tù đày.

Năm 1971, bà nghỉ hưu, khép lại hơn ba mươi năm hoạt động cách mạng bền bỉ. Nhưng những gì bà để lại không chỉ là ký ức, mà là một tấm gương sáng về lòng yêu nước, về đức hy sinh và ý chí kiên cường.

Gia đình bà là minh chứng sống động cho truyền thống cách mạng kiên cường, tiếp nối từ thế hệ cha đến thế hệ con. Cả cuộc đời bà Lê Thị Mười là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần bất khuất. Từ ảnh hưởng của người cha – ông Lê Đình Dương – bà đã tiếp nối và phát huy truyền thống ấy, trở thành một người chiến sĩ trung kiên của cách mạng Việt Nam.

Câu chuyện về bà và gia đình là ngọn lửa truyền cảm hứng cho thế hệ hôm nay. Nó nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng hòa bình, biết ơn những người đi trước và không ngừng nỗ lực để xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Cuộc đời bà Lê Thị Mười là một “thời hoa lửa” đúng nghĩa – nơi gian khổ và vinh quang đan xen, nơi con người tỏa sáng rực rỡ nhất trong thử thách. Với tôi, bà không chỉ là người thân yêu, mà còn là niềm tự hào, là ngọn lửa truyền thống để thế hệ sau tiếp bước. Dẫu thời gian có trôi qua, những câu chuyện về bà vẫn sống mãi – như một khúc tráng ca bất diệt của lòng yêu nước và tinh thần cách mạng Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
bà Lê Thị Mười - Một thời hoa Lửa | Câu chuyện thời hoa lửa