Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam Trần Thị Quang Mẫn
Sống trong hoàn cảnh đất nước bị chiến tranh nên từ nhỏ bà Mẫn đã có ý thức và trách nhiệm muốn đóng góp công sức cho nước nhà. Dù bị gia đình ngăn cấm nhưng bà Mẫn rủ em gái cùng tham gia hoạt động cách mạng. Vốn được học võ từ nhỏ, lại thêm tính cách gan dạ, muốn trực tiếp cầm súng tham gia đánh giặc nên bà xin gia nhập Vệ Quốc đoàn. Tuy nhiên, đơn vị này chỉ nhân nam quân nhân nên bà phải tìm cách giả trai. Bằng nhiều cách, từ cắt tóc ngắn, quấn chặt ngực, tập thay đổi dáng đi, giọng nói, rèn
Năm 1945, Việt Nam giành được độc lập, không lâu sau thì Pháp đổ quân tái chiếm Nam Bộ. Bất chấp sự ngăn cản của gia đình, bà cùng người em gái kế là Bảy Trâm trốn nhà để tham gia quân đội. Do mong ước được tham gia chiến đấu, bà tìm cách giả trai, lấy tên là Trần Quang Mẫn, để được tham gia vào đơn vị bộ đội chủ lực. Năm 1946, bà trở thành đội viên Vệ quốc đoàn thuộc trung đội 1, đại đội 70, chi đội 124 của Bộ đội Huỳnh Thủ, hoạt động ở Vĩnh Thuận (vùng U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang). Do thành tích chiến đấu, đến năm 1950, bà được đề bạt làm Đại đội trưởng.
Thân phận nữ nhi của bà bị bại lộ do người chồng tương lai mà gia đình bà đã hứa hôn đến đơn vị đòi cưới. Sau khi cưới, vợ chồng bà tiếp tục tham gia chiến đấu ở các chiến trường khác nhau. Năm 1952, bà mang thai, khi sắp đến ngày sinh, bà rời đơn vị, về nhà cha mẹ để chuẩn bị sinh nở. Tuy nhiên, sau đó bà nhận được tin chồng bà đã hy sinh khi đánh đồn Chàng Chẹt.
Năm 1954, bà được chỉ thị không tham gia tập kết, mà bí mật ở lại địa phương, làm phó bí thư chi bộ xã Thạnh Hòa, huyện Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá. Tháng 1 năm 1956, bà tham gia "Đội bảo vệ hòa bình", một tổ chức vũ trang bí mật của Liên tỉnh ủy Miền Tây. Tháng 11 năm 1957, bà được phân về Đại đội 2 an ninh vũ trang (mật danh là Tiểu đoàn Ngô Văn Sở) chuyên trách công tác ám sát các sĩ quan, quan chức Việt Nam Cộng hòa ở vùng Nam Cà Mau.
Giữa năm 1958, bà nhận lệnh của cấp trên về việc ám sát Thiếu tá Lâm Quang Phòng, Chi khu trưởng kiêm quận trưởng An Phước. Đêm 19 tháng 7 năm 1958, bà dùng một chiếc dao phay bén chém trọng thương Thiếu tá Phòng khi ông này đang ngủ. Tuy nhiên, ông Phòng chỉ bị trọng thương, còn bà bị các vệ sĩ của ông Phòng bắt được. Bà bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa kết án 12 năm khổ sai, 5 năm biệt xứ, nhưng giảm xuống còn 7 năm tù khổ sai, 5 năm biệt xứ. Bà được trả tự do cuối năm 1966.
Sau khi được chính quyền Việt Nam Cộng hòa trả tự do, bà được tổ chức bí mật đưa căn cứ. Năm 1967, bà được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng, được tham gia đoàn Dũng sĩ miền Nam ra Bắc và được tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau khi trở lại miền Nam, bà được phân công công tác chính trị trong Quân khu 9 cho đến khi nghỉ hưu theo chế độ với quân hàm Thiếu tá.
Bà có một người con trai tên Nguyễn Quốc Hưng, sinh ngày 19 tháng 4 năm 1952, chỉ trước khi ông Mười Bé hy sinh 4 ngày. Anh Hưng về sau cũng tham gia bộ đội địa phương và hy sinh khi mới 15 tuổi. Năm 1994, bà được Nhà nước Việt Nam trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Bà qua đời vào ngày 23 tháng 3 năm 2021 tại Thành phố Hồ Chí Minh, không lâu sau lễ mừng thọ 95 tuổi.



