bà mẹ việt nam Anh hùng Lê Thị Bảy
Người viết: Nguyễn Thị Thùy Dương
Học sinh lớp: 8B - Trường THCS Đông Hải
Nhân vật: Đồng Chí Lê Thị Bảy
Quê quán: Thôn Đồng Cừ, xã Đông Hải (nay là xã Quỳnh An, tỉnh Hưng Yên)
BÀI LÀM
Tôi may mắn được sinh ra và lớn lên trong một đất nước hòa bình, không còn chiến tranh. Tuổi thơ tôi không có tiếng bom đạn, chỉ có tiếng gió đồng lúa rì rào và tiếng ve râm ran, tiếng trẻ con nô đùa ríu rít. Chính vì sống trong an lành, tôi càng khát khao tìm hiểu về những năm tháng chiến tranh qua lời kể của những người đi trước. Trong số những câu chuyện ấy, câu chuyện về người hàng xóm sát vách nhà tôi khiến tôi rơi nước mắt nhiều nhất. Bà Cụ Bảy - người phụ nữ nông dân chất phác, đã trở thành hiện thân cho danh hiệu cao quý "Bà mẹ Việt Nam anh hùng", đại diện cho biết bao người mẹ đã phải hi sinh tất cả, chứa đựng nỗi đau mất mát lớn lao để gìn giữ Tổ quốc. Những câu chuyện chiến tranh không được ghi trong sách giáo khoa mà được mẹ tôi cất giữ rồi tỉ mỉ kể lại cho tôi bằng giọng trầm buồn.
Qua lời mẹ, tôi như được sống lại những kí ức bi tráng, thấm thía hơn giá trị của sự hi sinh và lòng yêu nước đã hun đúc nên hình hài đất nước ngày nay. Mẹ tôi kể lòng mình ngày ấy tuy nghèo khó nhưng tình người dạt dào đặc biệt là sự kiên cường của những người mẹ. Cuộc sống của bà Bảy là một chiến trường khác, một chiến trường thầm lặng nơi hậu phương, nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Bà không cầm súng nhưng bà cầm chắc tay cày, tay cuốc, kiên trì lao động sản xuất giữa lúc bom đạn trút xuống như mưa. Bà phải canh tác trên những ruộng lúa bị bom cày xới, vừa gặt lúa vừa nghe ngóng tiếng máy bay, sẵn sàng lao xuống giao thông hào bất cứ lúc nào.
Bà Bảy cùng những người phụ nữ khác đã tổ chức thành một đội tiếp tế bí mật thầm lặng, không chỉ lo miếng cơm manh áo mà còn tiếp tế cho cán bộ. Bà thường giấu gạo rang, muối, thuốc trong chiếc giỏ tre cũ kĩ, luồn lách qua các chốt gác nguy hiểm để chuyển đến cứ điểm cho các chiến sĩ. Căn nhà tranh vách đất tưởng chừng yếu ớt của bà lại là một pháo đài. Bà đã biến nó thành nơi cất giấu lương thực, vũ khí, vừa là nơi trú ẩn an toàn cho các chiến sĩ và cán bộ Đoàn tham gia kháng chiến đi lại vùng địch hậu. Mẹ tôi vẫn thường xúc động nói: "Anh hùng trong thời kì kháng chiến thực nhất của bà, chính là hình ảnh đời thường nhất, biến sự gian khổ thành sức mạnh phi thường nuôi dưỡng cuộc chiến".
Trong lời kể của mẹ, những tình huống bà Bảy đối diện với cái chết hiện lên thật gay cấn, thể hiện sự dũng cảm phi thường... Mẹ nói, tiếng bom đạn đã trở thành điệu nhạc buồn của chiến tranh, là nỗi ám ảnh thường trực. Dần dà, một thương binh nặng bị lạc đồng đội, mai nghiêm trọng đã được đồng đội đưa về giao phó cho bà. Nhiệm vụ của bà không chỉ là che giấu mà còn là giành giật sự sống từ tay tử thần. Bà Bảy đã phải thức trắng nhiều đêm, nấu những nồi nước lá rừng đặc quánh để rửa vết thương, dùng hơi ấm cơ thể và những chiếc khăn tẩm nước nóng để chườm cho những người chiến sĩ sốt cao mê sảng. Nguy hiểm hơn, địch nghi ngờ, chúng kéo đến lật tung mọi thứ. Chúng đạp cửa vào nhà bà Bảy. Dù tuổi đã cao, bà vẫn giữ được sự bình tĩnh kinh ngạc. Bà đứng chặn trước cửa hầm, đôi mắt ánh lên vẻ kiên định, trả lời trơn tru mọi câu hỏi chất vấn. Bà dùng sự khôn ngoan của người nông dân, giả vờ ngây ngô, đánh lạc hướng kẻ thù bằng sự lúng túng giả tạo, nhưng ánh mắt bà thì sắc lạnh. Hành động ấy không chỉ thể hiện sự dũng cảm cá nhân mà còn là sự thông minh của người lính, một sự xả thân cao cả đã cứu thoát sinh mạng của không biết bao người lính, một nhân chứng sống cho lý tưởng độc lập.
Nhưng nỗi đau lớn nhất, sâu sắc nhất lại là sự mất mát không gì bù đắp được. Mẹ tôi nghẹn ngào kể rằng, bà Bảy có tổng cộng bốn người con. Ba con trai và một người con gái duy nhất tham gia kháng chiến. Lần lượt từng tờ giấy báo tử gửi về. Bà Bảy không hề gào khóc thảm thiết, mẹ nói, nước mắt bà chảy ngược vào tim, biến thành ngọn lửa âm ỉ. Bà chỉ lặng lẽ thắp hương, xếp ngay ngắn chiếc mũ tai bèo đã sờn, đôi dép cao su bạc màu, chiếc khăn tay thêu vụng về của con gái vào góc tủ. Mỗi kỉ vật là một nhát dao cứa vào tim người mẹ. Sự hi sinh cao cả ấy không chỉ là mất đi những người con yêu quý, mà còn là sự chấp nhận buông bỏ tất cả hạnh phúc cá nhân để đổi lấy tự do cho dân tộc, thể hiện trọn vẹn tinh thần yêu nước không gì ngăn cản.
Nỗi đau mất mát của tình mẫu tử đã ngưng đọng lại, để thay vào đó là ý chí kiên cường vì vận mệnh đất nước. Bà không để nỗi đau nhấn chìm mình. Sự kiên cường của bà trở thành một sức mạnh tinh thần phi thường, minh chứng cho lòng quả cảm của người mẹ Việt Nam. Điều khiến tôi khâm phục nhất qua lời kể của mẹ là tinh thần thép và lòng đoàn kết của bà Bảy. Mẹ tôi nói, dù đã mất đi 4 người con, bà vẫn không gục ngã, mà trở thành người mẹ tinh thần cho mọi người, là chỗ dựa vững chắc cho những thanh niên xung phong hay thương binh. Bà Bảy động viên những người vợ mất chồng, những đứa trẻ mồ côi, gieo lòng tin sắt đá chào ngày đất nước thống nhất. Bà cùng các cô, chú tổ chức công việc xã hội, giúp đỡ gia đình liệt sĩ, tạo nên một hậu phương vững chắc. Người lính khi kể về sự hi sinh của các con, giọng bà đầy xúc động, chân thực xen lẫn niềm tự hào.
Mẹ tôi dạy tôi rằng, đó là sức mạnh của tình mẫu tử thiêng liêng, sự hi sinh vô điều kiện, là sự dũng cảm lớn lao nhất. Nhờ những hành động và tấm gương của bà, tôi càng thêm biết ơn sâu sắc về những gì mình đang có và càng tự hào về lịch sử dân tộc. Hòa bình và độc lập mà tôi đang thụ hưởng hôm nay đã được đổi bằng máu xương, nước mắt của thế hệ đi trước. Nghe những câu chuyện về bà Bảy tôi càng thấm thía được giá trị của sự trân trọng hoà bình và lòng biết ơn vô hạn. Câu chuyện về bà Bảy không chỉ là lịch sử mà còn là một bài học đạo đức về lòng dũng cảm, sự hi sinh và tình yêu nước được kể lại qua lời mẹ tôi, người đã chứng kiến những năm tháng ấy. Tôi sẽ ra sức học tập thật tốt, yêu nước, trân trọng công lao của thế hệ đi trước, để sau này góp phần phát triển, xây dựng đất nước tươi đẹp hơn. Máu xương của các anh hùng đã đổ xuống, không phải để chúng ta quên lãng, mà để chúng ta sống sao cho xứng đáng.


