BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG - LIỆT SĨ TRẦN THỊ GIÀU
Bản thân là liệt sĩ và có một người con là liệt sĩ Lê Thị Hường, hy sinh năm 1972
Mẹ Trần Thị Giàu xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo nhưng giàu lòng yêu nước tại xã Xuyên Thọ, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Lúc bấy giờ, trước cảnh quê hương bị tàn phá bởi chiến tranh, với lòng căm thù giặc sâu sắc, hòa cùng khí thế cách mạng trong cả nước, Mẹ đã cùng bà con địa phương đứng lên đấu tranh chống lại ách đô hộ, đàn áp của thực dân Pháp xâm lược.
Năm 1947, Mẹ đã tham gia hoạt động của các tổ chức đoàn thể, góp phần tích cực trong việc tuyên truyền những chủ trương của Mặt trận Việt Minh đến với nhân dân, vận động nhân dân đóng góp lúa, gạo cho cách mạng tham gia các hoạt động nuôi quân, nuôi dưỡng thương binh... Những năm 1966-1967, Mẹ là Tổ trưởng Tổ Phụ nữ xã Duy Nghĩa, trực tiếp nuôi giấu các đồng chí thương binh, tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men từ vùng địch về vùng căn cứ cách mạng. Những năm 1968-1969, Mẹ làm Tổ trưởng Tổ đấu tranh chính trị, vận động nhân dân bám đất, bám địa bàn, cải trang hầm bí mật cho cán bộ, du kích hoạt động bất hợp pháp. Ngày 13/7/1969, địch càn quét xã Duy Nghĩa. Được sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Tấn Quảng, Bí thư Chi bộ và bà Võ Thị Bẻo, cán bộ phụ nữ xã, Mẹ đã cùng chị em phụ nữ bám trụ tại địa phương, tham gia đấu tranh chính trị. Khi địch (quân Đại Hàn) đi càn vào thôn 6, xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, chúng ném lựu đạn làm cho Mẹ và 4 đồng chí khác hy sinh. Đau xót hơn là hai người con của Mẹ (một người con 7 tuổi và người con gái út 5 tuổi) cũng chết bởi lựu đạn của địch ngày hôm đó.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chồng Mẹ là ông Lê Đở (1910-1999) đã tích cách mang và được cực tham gia nhiều hoạt động phục vụ cách mạng và được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặngHuân chương Kháng chiến hạng Ba(Quyết địnhngày 01/12/2000).
Mẹ sinh được tám người con thì bốn người đã mất khi còn nhỏ, trong đó có hai người đã mất cùng ngày Mẹ hy sinh khi đang làm nhiệm vụ. Khi lớn lên, những người con còn lại của Mẹ đều tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Chị Lê Thị Quá (Lan), sinh năm 1947, đi thanh niên xung phong những năm 1966-1969. Anh Lê Lợi, sinh năm 1949, cũng tham gia chiến đấu trong lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ năm 1973, anh Lê Lợi đã vào chiến trường Tây Nguyên chiến đấu đến khi đất nước hoàn toàn giải phóng, hiện nay đã nghỉ hưu.
Chị Lê Thị Hường sinh năm 1951, làm giao liên của tỉnh Quảng Nam từ năm 1971. Ngày 07/10/1972, trong lúc đi chuyển thư thì bị địch phục kích bằng mìn, chị đã hy sinh và bị địch cướp mất xác. Để ghi nhận những cống hiến của chị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 01/5/1975, Hội đồng Cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Quyết thắng hạng Ba; ngày 01/10/1991, Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba đối với liệt sĩ Lê Thị Hường.
Trong những năm 1968-1975, con trai út của Mẹ là anh Lê Văn Đáo (sinh năm 1958) đã tham gia hoạt động cách mạng, làm giao liên cho cơ sở mật. Năm 1976, anh nhập ngũ và chiến đấu tại chiến trường Campuchia. Anh là thương binh, hiện sinh sống tại phường Duy Tân, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, và là người thờ phụng Mẹ.
Để ghi nhận những cống hiến, hy sinh của gia đình Mẹ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Nhà nước đã tặng Mẹ và gia đình nhiều danh hiệu cao quý: năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Bảng Gia đình danh dự, ngày 01/10/1991, Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba và ngày 26/4/2014, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đối với Mẹ Trần Thị Giàu.



