BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ BƯỞI (1904-1975)
BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ BƯỞI (1904-1975)
BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ BƯỞI (1904-1975)
Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, khi đất nước chìm trong bom đạn và mất mát, những người mẹ nơi hậu phương vẫn âm thầm gìn giữ từng tấc đất, từng mái nhà cho cách mạng. Không súng, không gươm, Mẹ chiến đấu bằng tất cả tình thương, sự kiên nhẫn và lòng trung kiên vô bờ bến, trở thành nguồn động lực bất tận để bộ đội yên tâm bước ra chiến trường. Mẹ Nguyễn Thị Bưởi sinh ra trong gia đình nông dân nghèo ở xã Hòa Tịnh, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Lớn lên mẹ lập gia đình cùng ông Huỳnh Văn Tùng và theo chồng về sống ở ấp Hòa Mỹ 2, xã Mỹ An (Mang Thít). Mẹ sống với ông Tùng được 3 người con, đến năm 1930 ông Tùng qua đời, 17 năm sau mẹ lập gia đình lần thứ hai với ông Nguyễn Văn Lại và về quê ông ở xã Nhơn Phú (Mang Thít) sinh sống. Mẹ sống với ông Lại được 3 người con và 3 người con đều là liệt sĩ. Năm 1953, ông Lại qua đời.
Sau khi chồng mất, một mình mẹ nuôi các con trưởng thành. Trước cảnh tàn bạo của kẻ thù, mẹ đã động viên các con lên đường tham gia cách mạng. Liệt sĩ Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1950, tham gia du kích xã Nhơn Phú; sau đó tham gia địa phương quân huyện Mang Thít. Vào tháng 10/1968, trong lúc cùng đồng đội đóng quân tại Ngã ba Bà Nữ, anh bị lính đồn từ Mù U đi càn bắn anh hy sinh. Hài cốt của anh được an táng Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Mang Thít. Liệt sĩ Nguyễn Văn Nam, sinh năm 1952, tham gia địa phương quân huyện Mang Thít và cũng hy sinh tại Ngã ba Bà Nữ trong trận càn vào tháng 9/1968 (trước người anh 1 tháng). Hài cốt của anh được an táng Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Mang Thít.
Liệt sĩ Nguyễn Văn Mậu, sinh năm 1954, tham gia du kích xã, sau đó theo anh Nam vào địa phương quân huyện Mang Thít và cũng hy sinh chung anh Nam vào tháng 9/1968 trong trận càn của địch tại Ngã ba Bà Nữ. Hài cốt của anh được an táng Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Mang Thít.
Bản thân mẹ, trong thời gian sinh sống tại Nhơn Phú, mẹ đã tích cực nuôi chứa các chiến sĩ hoạt động cách mạng. Cuối năm 1968, địch biết gia đình mẹ là cơ sở của cách mạng nên lúc đi càn ở Ngã ba Bà Nữ chúng đã đốt nhà mẹ.
Đền đáp công ơn mẹ, ngày 24/4/1996, Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng". Giờ đây, dù chiến tranh đã lùi xa và đất nước đã hòa bình, nhưng những hy sinh của Mẹ vẫn âm ỉ như ngọn lửa ấm áp soi sáng con đường thế hệ hôm nay. Công lao ấy mãi mãi là di sản tinh thần vô giá, nhắc nhở chúng ta phải sống tốt hơn, cống hiến nhiều hơn để xứng đáng với những gì Mẹ đã gửi lại.



