BÀ MINH NHỚ NHỮNG NGÀY ĐI DÂN CÔNG HỎA TUYẾN
BÀ MINH NHỚ NHỮNG NGÀY ĐI DÂN CÔNG HỎA TUYẾN
Bà Nguyễn Thị Minh sinh năm 1949, quê ở Lâm Bình, Tuyên Quang. Trong những năm tháng tuổi trẻ, bà tham gia dân công hỏa tuyến, thuộc N-109-P38, làm nhiệm vụ tại mặt trận Hà Giang.
Bây giờ hỏi bà về những năm tháng ấy, bà không kể ngay được hết.
Bà bảo:
“Lâu quá rồi chú ạ. Có cái nhớ, có cái quên. Hồi ấy ngày nào cũng làm, cứ ngày này qua ngày khác, thành ra bây giờ bảo nhớ từng ngày thì không nhớ được.”
Tôi hỏi bà còn nhớ những công việc ngày ấy không.
Bà ngồi nghĩ một lúc rồi nói:
“Nhớ chứ. Chủ yếu là đi làm nhiệm vụ. Có việc gì thì làm việc ấy. Có lúc đi vận chuyển, có lúc làm những việc phục vụ phía trước. Mọi người được phân công thế nào thì làm thế ấy.”
Bà nói rất bình thản.
Không có vẻ gì muốn kể chuyện của mình thành một điều lớn lao.
Có lẽ đối với bà, ngày ấy đơn giản là đi làm.
Nhưng đó là một công việc ở một nơi không phải quê mình.
Đường xa.
Đi lại khó.
Cuộc sống thiếu thốn.
Và quan trọng nhất là phải xa nhà.
Bà Minh bảo:
“Ngày ấy còn trẻ nên cũng không nghĩ nhiều như bây giờ. Người ta đi thì mình đi. Có việc thì làm.”
Tôi hỏi bà lúc đi có nhớ nhà không.
Bà cười:
“Nhớ chứ. Xa nhà mà.”
Rồi bà nói thêm:
“Nhưng lúc ấy ai cũng thế. Có phải một mình mình đâu.”
Chính câu nói ấy có lẽ nói được nhiều nhất về những người đi dân công ngày ấy.
Ai cũng có quê.
Ai cũng có người thân.
Ai cũng có những điều muốn trở về.
Nhưng khi đã đi cùng nhau thì cứ làm việc.
Bà Minh nhớ những bữa ăn.
Không phải vì bữa ăn ngày ấy có gì ngon.
Mà vì ăn uống lúc đó rất đơn giản.
“Có gì ăn nấy thôi.”
Bà nói.
Tôi hỏi có khi nào thiếu ăn không.
Bà bảo:
“Có chứ. Làm nhiều mà. Có lúc cũng đói.”
Bà không kể thêm dài dòng.
Có lẽ cái đói đối với những người sống trong hoàn cảnh ấy không phải chuyện lạ.
Đói thì chịu.
Có gì ăn thì ăn.
Ăn xong lại làm.
Bà nhớ những lúc mọi người ngồi với nhau ăn cơm. Người này ở quê này, người kia ở quê khác. Ban đầu không quen, sau đi với nhau lâu thì thành quen.
“Cùng đi với nhau thì biết nhau thôi.”
Bà nói.
Ai mệt thì người khác biết.
Ai có chuyện buồn thì mọi người hỏi.
Có khi chỉ ngồi cạnh nhau, chẳng nói gì.
Những ngày ấy thiếu thốn nhiều thứ, nhưng người với người lại gần nhau hơn.
Tôi hỏi bà có nhớ một kỷ niệm nào thật rõ không.
Bà lại ngồi nghĩ.
“Cũng có nhiều chuyện, nhưng giờ bảo kể một chuyện cụ thể thì khó.”
Đó là câu trả lời rất thật.
Bởi ký ức của một người sau hơn nửa thế kỷ không phải một cuốn sổ ghi chép đầy đủ.
Có những ngày nhớ rất rõ.
Có những năm tháng chỉ còn một khoảng mờ.
Có khuôn mặt nhìn thấy trong trí nhớ nhưng không gọi được tên.
Có tên người nhớ được nhưng không còn nhớ lần cuối gặp nhau là lúc nào.
Bà Minh cũng vậy.
Bà nhớ những người cùng đi.
Nhưng không phải ai cũng còn liên lạc.
“Sau này mỗi người một nơi. Người về quê, người lấy chồng, lấy vợ, rồi cuộc sống cuốn đi.”
Bà nói.
“Có người còn gặp lại. Có người thì mất liên lạc.”
Bà không kể ai mất, ai còn.
Chỉ nói:
“Thời gian lâu quá rồi.”
Nhắc đến Hà Giang, bà nhớ nhất cái khó khăn của đường đi.
Bà bảo ngày ấy đường sá không như bây giờ.
Đi lại vất vả.
Nhất là những hôm trời mưa.
Đường trơn.
Người đi trước phải cẩn thận, người đi sau cũng phải nhìn theo.
Mưa xuống thì quần áo ướt.
Làm việc xong về người đã mệt, lại phải lo chỗ nghỉ.
Bà bảo:
“Ngày ấy khổ thì khổ thật. Nhưng ai cũng khổ như nhau.”
Rồi bà cười.
Câu nói nghe đơn giản, nhưng có lẽ chính vì ai cũng cùng hoàn cảnh nên người ta ít than thở.
Một người mệt không thấy mình đặc biệt.
Bởi người bên cạnh cũng mệt.
Một người nhớ nhà thì người khác cũng nhớ.
Một người đói thì những người còn lại cũng chẳng no hơn bao nhiêu.
Thế là cứ động viên nhau mà làm.
Có một điều bà Minh nhớ khá rõ: lúc ấy mọi người còn trẻ.
“Bây giờ ngồi nghĩ lại mới thấy mình liều.”
Tôi hỏi:
“Liều thế nào hả bà?”
Bà cười:
“Thì trẻ mà. Có nghĩ được nhiều đâu.”
Rồi bà nói:
“Chứ bây giờ bảo đi như ngày ấy chắc không đi nổi.”
Bà nói câu đó rồi cười.
Tôi cũng cười.
Nhưng sau nụ cười ấy là cả một khoảng thời gian rất dài.
Một người sinh năm 1949.
Nếu tính từ những năm còn trẻ ấy đến bây giờ, đã hơn nửa thế kỷ.
Đủ lâu để một con đường thay đổi.
Đủ lâu để một khu rừng thay đổi.
Đủ lâu để những người từng đi cùng nhau già đi.
Và cũng đủ lâu để một số người không còn nữa.
Tôi hỏi bà:
“Nếu được quay lại thời trẻ, bà có đi nữa không?”
Bà không trả lời ngay.
Bà nhìn ra ngoài một lúc rồi nói:
“Ngày ấy thì đi thôi.”
Không phải “sẽ đi”.
Mà là “đi thôi”.
Một câu rất ngắn.
Nhưng đúng với cách bà nhớ về tuổi trẻ của mình.
Ngày ấy có lệnh thì đi.
Có việc thì làm.
Chẳng ai ngồi tính xem mình được gì, mất gì.
Những người trẻ từ quê đi lên mặt trận, mỗi người mang theo một hoàn cảnh khác nhau. Nhưng khi cùng ở trong một đơn vị, cùng làm một công việc, những khác biệt ấy dần không còn quan trọng.
Quan trọng là hôm nay phải hoàn thành việc.
Ngày mai lại tiếp tục.
Bây giờ bà Minh đã có tuổi.
Tôi hỏi bà:
“Bà có còn giữ được kỷ vật gì từ ngày ấy không?”
Bà lắc đầu.
“Không còn gì mấy.”
Rồi bà nói:
“Hồi ấy có gì đâu mà giữ.”
Tôi thấy câu ấy còn thật hơn nhiều câu chuyện về những kỷ vật quý giá.
Bởi không phải ai đi qua chiến tranh cũng giữ được một lá thư, một chiếc khăn, một chiếc lược hay một món đồ nào đó.
Có người chẳng giữ lại được gì.
Chỉ còn ký ức.
Mà ký ức cũng lúc nhớ lúc quên.
Nhưng có một thứ có lẽ vẫn còn nguyên.
Đó là cảm giác về những năm tháng mình từng sống cùng những người khác trong một hoàn cảnh khó khăn.
Bà Minh nói:
“Sau này nghĩ lại mới thấy thương anh em ngày ấy.”
Tôi hỏi:
“Thương vì sao?”
Bà bảo:
“Thì cùng khổ với nhau.”
Chỉ vậy.
Không cần nói thêm.
Cuối buổi nói chuyện, bà Minh lại nhắc đến chuyện ngày ấy.
Bà bảo:
“Lâu rồi. Giờ già rồi, nhớ được đến đâu thì kể đến đấy.”
Tôi hỏi:
“Nhưng những ngày ấy có đáng nhớ không?”
Bà cười:
“Đáng nhớ chứ.”
Rồi bà ngồi im.
Một lúc sau mới nói:
“Tuổi trẻ mà. Đi qua rồi thì không trở lại được.”
Bà không nói mình đã làm được điều gì lớn lao.
Cũng không kể những lời quá đẹp.
Bà chỉ nhớ những ngày đã sống.
Những ngày xa nhà.
Những ngày cùng mọi người làm nhiệm vụ.
Những bữa cơm đơn giản.
Những con đường khó đi.
Những lúc mệt.
Những lúc nhớ quê.
Và những người đã từng ở bên mình.
Có thể sau hơn nửa thế kỷ, nhiều chi tiết đã phai.
Nhưng khi bà nhắc đến hai chữ “ngày ấy”, giọng bà vẫn khác đi một chút.
Có lẽ bởi trong hai chữ ấy có cả một thời tuổi trẻ.
Một thời mà bà Nguyễn Thị Minh, cũng như rất nhiều người dân công hỏa tuyến khác, đã rời quê nhà, đi đến một nơi xa, làm những công việc của mình và sống cùng đồng đội qua những năm tháng không dễ dàng.
Bây giờ bà đã già.
Con đường ngày ấy có thể đã khác.
Những người ngày ấy có thể mỗi người một nơi.
Nhưng nếu có ai hỏi bà đã từng sống những năm tháng tuổi trẻ như thế nào, có lẽ bà vẫn sẽ trả lời bằng mấy câu rất đơn giản:
“Khổ thì có khổ.
Nhớ nhà thì có nhớ.
Nhưng mọi người cùng làm với nhau.
Thế rồi cũng qua.”



