Bài viết

Ba ngày lịch sử ở Phan Rang: Trận quyết chiến cuối cùng của miền Nam

Tháng 4 năm 1975, trong dòng chảy thần tốc của Chiến dịch Hồ Chí Minh, Phan Rang – mảnh đất cuối cùng của Quân khu 2 quân đội Sài Gòn – trở thành “cánh cửa thép” mà đối phương hy vọng có thể khép lại đà tiến như vũ bão của Quân giải phóng từ Tây Nguyên đổ xuống.

Hưng Yên02/12/2025Nguyễn Thị Ngoan (Trường TH và THCS Tây Đô)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ba ngày lịch sử ở Phan Rang: Trận quyết chiến cuối cùng của miền Nam

Tháng 4 năm 1975, trong dòng chảy thần tốc của Chiến dịch Hồ Chí Minh, Phan Rang – mảnh đất cuối cùng của Quân khu 2 quân đội Sài Gòn – trở thành “cánh cửa thép” mà đối phương hy vọng có thể khép lại đà tiến như vũ bão của Quân giải phóng từ Tây Nguyên đổ xuống.

Nếu Đà Nẵng thất thủ quá nhanh, Nha Trang – Cam Ranh rơi vào tay cách mạng chỉ trong vài giờ, thì Phan Rang được chính quyền Sài Gòn xem như tuyến phòng ngự cuối cùng, một “phên dậu” bảo vệ đường rút vào Sài Gòn, nơi họ dốc vào những đơn vị tinh nhuệ nhất còn lại.

Với vị trí chiến lược: phía đông giáp biển, phía tây tựa dãy Trường Sơn, giữa quốc lộ 1A huyết mạch và căn cứ không quân Phan Rang – được xem như “lá chắn không – lục hợp nhất”, vùng đất này nhanh chóng trở thành tử điểm chiến lược của cả hai bên.

Nhưng đó cũng là mảnh đất đã quá mỏi mệt vì chiến tranh. Người dân Phan Rang thời khắc ấy hiểu rằng bão táp lịch sử đang thổi qua, và chỉ một bước chuyển động nữa thôi, miền Nam sẽ đổi sắc cờ.

Sau khi Buôn Ma Thuột hoàn toàn giải phóng (10/3/1975), thế chiến lược của Quân Giải phóng đảo chiều trong vài tuần. Tây Nguyên sụp đổ như một “đập nước bị vỡ”, kéo theo sự tan rã dây chuyền của Quân khu 2 – Vùng 2 Chiến thuật.
Khi Cam Ranh – khu quân cảng lớn nhất miền Nam – thất thủ, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lập tức chỉ thị:

“Phải giữ bằng mọi giá tuyến Phan Rang – Phan Thiết để tử thủ Sài Gòn.”

Tư lệnh được điều về đây là Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cùng nhiều đơn vị thuộc Sư đoàn 2, Sư đoàn 3 Không quân và lực lượng biệt động quân. Họ cho rằng có thể xây dựng một “tuyến tử thủ” cuối cùng.

Phía Quân Giải phóng, sau khi giải phóng Nha Trang – Cam Ranh, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định giao cho Quân đoàn 2, phối hợp với lực lượng địa phương Ninh Thuận – Bình Thuận, phải:

“Tốc chiến – tốc thắng, đánh chiếm Phan Rang, mở cửa phía Đông Nam cho hướng tiến công Sài Gòn.”

Phan Rang vì vậy trở thành nút thắt chiến lược cuối cùng trên trục Bắc – Nam.

* LỰC LƯỢNG THAM CHIẾN: Ý CHÍ CỦA MỘT DÂN TỘC ĐÃ ĐẾN GIỜ QUYẾT ĐỊNH

1. Phía Quân Giải phóng

Lực lượng chủ công gồm:

  • Quân đoàn 2 (tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Hữu An)

  • Sư đoàn 325 – “Sư đoàn Bình Trị Thiên”

  • Sư đoàn 3 – Sao Vàng

  • Trung đoàn 95, 101

  • Lực lượng pháo binh, xe tăng (gồm T-54, PT-76…)

  • Đơn vị công binh mở đường

  • Bộ đội địa phương Ninh Thuận – Bình Thuận

  • Lực lượng đặc công – du kích bám dân, bám đất, nắm tình hình địch từng giờ

  • Đây là những lực lượng đã dạn dày trận mạc qua đường Trường Sơn, chiến dịch Trị – Thiên, Tây Nguyên, đánh mạnh như nước xiết.

    2. Phía Quân đội Sài Gòn

    Lực lượng phòng thủ gồm:

    • Lữ đoàn 2 Dù

  • Liên đoàn 31 Biệt động quân

  • Các tiểu đoàn phòng thủ căn cứ không quân Phan Rang

  • Sư đoàn 6 Không quân

  • Xe tăng M41, M48, pháo binh 105 – 155 mm

  • Lực lượng cảnh sát dã chiến, bảo an, dân vệ

  • Họ giữ tinh thần “tử thủ”, nhưng chịu áp lực tâm lý dữ dội sau chuỗi thất bại liên tục từ Huế – Đà Nẵng – Cam Ranh.

    Trước khi nổ súng, Quân Giải phóng thực hiện những biện pháp chiến lược đặc biệt chính xác:

    1. Cắt đứt các trục giao thông

    • Quốc lộ 1 đoạn Bắc Phan Rang bị đặc công đánh cắt liên tục.

  • Tuyến đường từ Phan Rang về Cam Ranh bị phong tỏa.

  • Cầu, ngầm, các điểm chốt bị bao vây.

  • Phan Rang trở thành “ốc đảo”, hoàn toàn cô lập.

    2. Chặn đường không

    Khi phát hiện đối phương dựa vào sân bay Phan Rang để không kích và tiếp tế, lực lượng pháo binh bố trí trận địa ở tầm bắn phù hợp, liên tục bắn chế áp đường băng.

    3. Nắm chắc từng cứ điểm

    Du kích, cơ sở cách mạng tại Ninh Thuận đã bám từng cánh đồng, từng xóm làng, ghi lại:

    • vị trí pháo,

  • hầm ngầm,

  • tuyến xe tăng,

  • đường tiếp tế của địch.

  • Toàn bộ tình hình được chuyển về sở chỉ huy Quân đoàn 2, giúp vẽ nên bản đồ tác chiến chi tiết hiếm có trong giai đoạn cao điểm.

    * NỔI ĐẦM LỬA: TRẬN ĐÁNH MỞ MÀN (14–15/4/1975)

    Rạng sáng 14/4/1975, pháo binh ta nã những loạt đạn đầu tiên vào sân bay Phan Rang. Địch lập tức phản pháo, đưa A-37 và F-5 lên không kích nhưng bị pháo cao xạ khống chế ở tầm thấp.

    1. Tấn công tuyến phòng ngự vòng ngoài

    Sư đoàn 325 đánh chiếm đồi Trại Ngựa – điểm cao khống chế cửa ngõ phía Tây. Lực lượng địch chống trả quyết liệt, nhưng sau 3 giờ giao tranh, tuyến phòng thủ bị xuyên thủng.

    2. Đánh chiếm cầu Ninh Chữ

    Cầu Ninh Chữ – nơi địch bố trí biệt động quân và xe tăng – trở thành mục tiêu then chốt.

    Trung đoàn 101 sau hơn một giờ chiến đấu đã đánh bật lực lượng chốt giữ, làm chủ cầu trước khi trời sáng.
    Địch bắt đầu rút lui vào sâu trong thị xã.

    Trận đánh mở màn tuy ác liệt nhưng chỉ là bước khởi đầu của cơn bão lớn.

    * TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾM CĂN CỨ KHÔNG QUÂN PHAN RANG – ĐIỂM MẤU CHỐT CỦA CHIẾN DỊCH

    Sáng 16/4/1975, các đơn vị chủ lực nhận lệnh đánh thẳng vào căn cứ không quân – nơi được coi là “tuyến phòng thủ cuối cùng”.

    1. Tấn công theo trục Đông – Tây

    • Xe tăng T-54 của ta mở mũi đột kích từ quốc lộ 1.

  • Bộ binh bám theo xe để diệt các ổ đề kháng.

  • Đặc công luồn sâu đánh các trạm thông tin và kho bom.

  • Địch tung toàn bộ xe tăng M48, M41 chống trả, tạo nên trận chiến xe tăng hiếm hoi ở vùng cực Nam Trung Bộ.
    Nhiều T-54 bị bắn cháy, nhưng xe tăng ta vẫn giữ được thế tiến công mạnh.

    2. Người lính công binh mở đường trong lửa đạn

    Các chiến sĩ công binh liên tục gỡ mìn, mở đường cho xe tăng.
    Một chiến sĩ (người Ninh Hải), khi ngã xuống do mảnh pháo, vẫn kịp dặn đồng đội:
    Đừng để đường gãy, xe tăng phải vào được sân bay hôm nay!

    Lời nói ấy trở thành tiếng thúc giục của cả đơn vị.

    3. Sụp đổ của sân bay Phan Rang

    Khi đặc công đánh chiếm tháp chỉ huy, đường băng đã bị pháo ta cắt nát.
    Những chiếc A-37 còn lại của địch không thể cất cánh.

    Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang bị bắt sống.
    Hệ thống chỉ huy địch sụp đổ hoàn toàn.

    Đến trưa 16/4/1975, sân bay Phan Rang thất thủ – sự kiện đánh dấu bước ngoặt không thể cứu vãn cho toàn bộ lực lượng của chính quyền Sài Gòn ở cực Nam Trung Bộ.

    * XUẤT HIỆN CỜ GIẢI PHÓNG TRÊN NẮNG GIÓ PHAN RANG

    — TRẬN ĐÁNH KẾT THÚC (17/4/1975)**

    Sau khi sân bay thất thủ, tuyến phòng thủ trong thị xã rối loạn.
    Quân ta triển khai tấn công nhanh, kết hợp với lực lượng địa phương nổi dậy.

    1. Nhân dân Phan Rang đứng lên

    Các cơ sở cách mạng hướng dẫn quần chúng:

    • nổi dậy bảo vệ trụ sở hành chính,

  • dẫn đường cho bộ đội đánh vào các ổ đề kháng,

  • thu gom khí tài địch bỏ lại.

  • Những lá cờ Giải phóng đầu tiên xuất hiện trên các mái nhà ở khu phố Động Tín, Tấn Tài, Kinh Dinh.

    2. Tàn quân rút chạy tán loạn

    Các đơn vị địch cố phá vây theo quốc lộ 1 về Phan Thiết nhưng bị ta chặn đánh liên tục ở Tân Mỹ, Ba Râu, Đèo Ngoạn Mục.
    Nhiều đơn vị tan rã, bỏ lại vũ khí.

    3. Giờ khắc chiến thắng

    Đến chiều ngày 17/4/1975, toàn bộ thị xã Phan Rang – Ninh Thuận hoàn toàn giải phóng.
    Lực lượng chủ lực nhanh chóng hành quân tiếp về hướng Phan Thiết – Xuân Lộc – cửa ngõ Sài Gòn.

    Bản đồ chiến lược miền Nam đã mở toang cánh cửa cuối cùng.

    * Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TRẬN GIẢI PHÓNG PHAN RANG

    1. Xóa sổ tuyến phòng thủ cuối cùng phía Đông Nam của đối phương

    Phan Rang sụp đổ đồng nghĩa:

    • Vùng 2 Chiến thuật chính thức tan rã

  • Các căn cứ không quân còn lại không thể hoạt động

  • Sài Gòn bị phơi trần phía Đông Bắc và Đông Nam

  • 2. Cắt đứt mọi hy vọng “tử thủ”

    Nơi mà chính quyền Sài Gòn hy vọng tạo điểm tựa cuối cùng để phản công đã tan vỡ chỉ trong ba ngày chiến đấu.

    3. Tạo đà cho chiến dịch Hồ Chí Minh

    Sau Phan Rang, Quân đoàn 2 rảnh tay hành quân thần tốc hỗ trợ hướng Đông, trùng với thời điểm Tây Nguyên – Duyên Hải hợp lực bao vây Sài Gòn.
    Sức mạnh chiến lược được nhân lên gấp bội.

    4. Một minh chứng của ý chí dân tộc

    Dù không phải trận đánh lớn nhất, nhưng Phan Rang là chiến thắng đặc biệt, thể hiện:

    • nghệ thuật phối hợp binh chủng,

  • khả năng tổ chức tác chiến thần tốc,

  • sự nổi dậy của quần chúng,

  • ý chí “đánh đến cùng để giải phóng miền Nam.”

  • Trong những ngày sau giải phóng, người dân Phan Rang kể lại nhiều câu chuyện cảm động về những người lính đã ngã xuống:

    • Một chiến sĩ quê Quảng Trị mang theo nắm đất quê hương, hy vọng sẽ sống đến ngày “cờ đỏ sao vàng vào Sài Gòn”. Anh ngã xuống ngay trước cửa sân bay.

  • Một nữ du kích Ninh Hải dẫn đường qua bãi mìn, chân rớm máu vì gai đá nhưng vẫn đi đầu đoàn.

  • Nhiều gia đình đem từng bánh mì, từng bình nước trao cho bộ đội trong ngày thị xã được giải phóng.

  • Những câu chuyện ấy như khắc lên ký ức Phan Rang – vùng đất tưởng chừng chỉ có nắng gió, nhưng lại ấm áp và kiêu hãnh đến lạ.

    Trận giải phóng Phan Rang không chỉ là một chiến thắng quân sự.
    Đó là biểu tượng của thời khắc lịch sử, khi ý chí dân tộc hội tụ thành sức mạnh không gì cản nổi.

    Trong ánh nắng cháy bỏng tháng 4/1975, lá cờ Giải phóng tung bay trên thị xã Phan Rang đã báo hiệu một điều:
    Ngày đại thắng đang đến rất gần.

    Hai tuần sau, ngày 30/4/1975, Sài Gòn giải phóng.
    Đất nước trọn niềm vui thống nhất.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn