Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

BÀ NGUYỄN THỊ LỰU - TÌNH YÊU TRONG ÁNH LỬA

Đồng Tháp13/05/2026ĐOÀN XÃ TÂN LONG (ĐOÀN XÃ TÂN LONG)5 lượt xem0 lượt chia sẻ
BÀ NGUYỄN THỊ LỰU - TÌNH YÊU TRONG ÁNH LỬA

Trong những năm đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp tăng cường xâm lược và áp bức nhân dân ta,khiến đất nước chìm trong cảnh lầm than, đói khổ, nhân dân bi chèn ép và đô hộ. Trước tình cảnh ấy, phong trào đấu tranh cách mạng bùng lên mạnh mẽ khắp Nam Bộ, trong đó có tỉnh Đồng Tháp. Chính trong hoàn cảnh lịch sử đầy gian khổ đó, Nguyễn Thị Lựu - Tám Lựu đã sớm nhận ra tinh thần cách mạng, tham gia hoạt động yêu nước, góp phần vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Nguyễn Thị Lựu tên thật là Nguyễn Thị Thưởng sinh ra và lớn lên tại tỉnh Đồng Tháp, trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước. Từ nhỏ, bà sớm chứng kiến cảnh nhân dân bị áp bức dưới ách thống trị của thực dân Pháp, cuộc sống nghèo khổ, lầm than. Chính hoàn cảnh đó đã hun đúc trong bà tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc và ý chí đấu tranh mạnh mẽ. Khi trưởng thành, Nguyễn Thị Lựu sớm giác ngộ cách mạng và tham gia các hoạt động yêu nước, trở thành một nữ chiến sĩ kiên cường của phong trào cách mạng địa phương. Là người con gái hiếu hạnh, dũng cảm, mưu trí, bà sớm được giác ngộ cách mạng, thoát ly gia đình, đứng vào hàng ngũ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (1928). Qua thành tích hoạt động xuất sắc, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1929 tại Cần Thơ.

Trong quá trình hoạt động, bà đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng như làm liên lạc, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân, nuôi giấu và bảo vệ cán bộ cách mạng. Bà thường xuyên đi lại giữa các cơ sở, truyền đạt chỉ thị, tài liệu, góp phần giữ mối liên hệ giữa các lực lượng cách mạng tại địa phương. Đầu năm 1931, trên cương vị Thường vụ Tổng công hội đỏ Xứ Ủy Nam Kỳ, bà bị giặc bắt giam ở bót Pôlô (Chợ Lớn). Trước những trận đòn khốc liệt, man rợ, bà vẫn không chao đảo tinh thần, không chịu đầu hàng và khuất phục vẫn một lòng vững dạ bảo toàn khí tiết cộng sản. Đồng chí Nguyễn Văn Hanh, bí danh Nhuận, người yêu của bà, cũng bị bắt giam tại bót Pôlô cùng thời điểm với bà. Tòa đại hình đặc biệt Sài Gòn mở phiên xử, kéo dài 7 ngày từ 2-5-1933 đến 9-5-1933, tuyên án bà 5 năm tù giam tại Khám lớn Sài Gòn, đồng chí Nhuận tử hình, hạ xuống chung thân khổ sai, đày đi Côn Đảo.

Năm 1936, bà được trả tự do, mới biết tin người yêu đã hy sinh trong chuyến vượt ngục Côn Đảo cuối năm 1934, cùng với 10 đồng chí, trong đó có Ngô Gia Tự (1908 – 1934), Bí thư đầu tiên của Xứ Ủy Nam Kỳ.

Trở lại hoạt động, bà tham gia nhóm La Lutte (Tranh đấu), phục vụ tại tòa soạn La Lutte và được bầu vào Ủy ban trù bị Đông dương Đại Hội. Đầu năm 1937, bà tiếp tục làm báo L’Avant - Garde (1937), Le Peuple (1937), Dân chúng (1938 – 1939). Đầu tháng 9/1939, bà bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ 2 ở nhà tù Phú Mỹ (Thị Nghè – Gia Định) 1939 – 1941, trại giam Bà Rá (Biên Hòa) 1941 – 1945.

Nhựt đảo chánh Pháp 9-3-1945, bà cùng một số đồng chí ở trại tù Bà Rá vượt ngục về Sài Gòn, tham gia hoạt động, vận động quần chúng ủng hộ Mặt trận Việt Minh lãnh đạo thắng lợi Tổng khởi nghĩa 25-8-1945. Năm 1946 bà công tác ở Tỉnh ủy Châu Đốc, tham gia Ban Dân vận thị xã Châu Đốc, gầy dựng phát triển tờ báo “Anh Thư” của Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh Châu Đốc.

Sau đó, bà giữ các nhiệm vụ: Trưởng ban Phụ Vận Thành Ủy Sài Gòn – Chợ Lớn (1949); tham gia Phong trào bảo vệ hòa bình Sài Gòn – Chợ Lớn, phụ trách Tiểu ban đấu tranh đòi thi hành hiệp định Genève (1954); gia nhập Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ủy viên Ban Mặt trận trung ương (1959); Vụ trưởng Vụ quốc tế của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam (1960); Ủy viên Ban thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam (1961).

Sau ngày giải phóng 30-4-1975, bà đảm nhận Chủ nhiệm Ủy ban thống nhất của Quốc hội, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nghỉ hưu tháng 7-1979.

Dù cuộc đời bà chảy qua nhiều biến cố, nhiều sự đau khổ hay đau đớn do kẻ thù gây ra, bà vẫn một mực kiên định, giữ vững ý chính chiến đấu, tinh thần mảnh liệt của bà đã dập tắt đi bao ý định của những thế lực xâm lược. Đặt sự an nguy của đất nước lên hàng đầu.

Bà từ trần ngày 11-10-1988, hưởng thọ 79 tuổi, rạng rỡ đôi đàng về cách mạng, về tình yêu, thủy chung, kiên cường, bất khuất. Tên bà được đặt cho một trường Trung học cơ sở và một con đường trong Phường Cao Lãnh. Với tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và lòng trung thành với cách mạng của Nguyễn Thị Lựu đã thể hiện rõ phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong những năm tháng đấu tranh gian khổ. Dù đối mặt với nhiều khó khăn, hiểm nguy, bà vẫn một lòng vì độc lập dân tộc, để lại tấm gương sáng về tinh thần cách mạng cho các thế hệ mai sau noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn