Ba Thảo - Trung tướng Nguyễn Bình
Là một người chiến sĩ cộng sản kiên trung, một tài năng quân sự bẩm sinh, giàu lòng nghĩa hiệp, giàu đức hy sinh, dấu ấn Nguyễn Bình đã in đậm ở nhiều vùng miền của Tổ quốc cũng như trên những chặng đường đấu tranh giải phóng dân tộc

Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh ngày 30 tháng 7 năm 1908, quê ở thôn Yên Phú, xã Tinh Tiến (nay là xã Nguyễn Văn Linh), tỉnh Hưng Yên.Thời trẻ, ông lên Hải Phòng làm thủy thủ trên tàu viễn dương chạy tuyến Việt Nam - Pháp. Được Trần Huy Liệu vận động, ông tham gia cách mạng, gia nhập Việt Nam Quốc dân đảng, phụ trách quân sự. Sau thất bại của khởi nghĩa Yên Bái, lực lượng Việt Nam Quốc dân đảng bị phân hóa, ông và Trần Huy Liệu đều bị thực dân Pháp bắt giam và đày đi Côn Đảo. Trong thời gian ở Côn Đảo, được tiếp xúc với những lãnh đạo cộng sản nên hai người chuyển từ hệ tư tưởng Quốc dân Đảng sang hệ tư tưởng Cộng sản và bị nhóm cực hữu trong đảng kết án tử hình nhưng đều may mắn thoát nạn, riêng ông bị đâm mù một mắt.Theo Trần Kim Trúc, tham mưu trưởng Trung đoàn 25 Bình Xuyên, thì Nguyễn Bình sau khi tiếp xúc với những đảng viên cộng sản đã làm chỉ điểm, báo cáo những dự tính của đảng viên Quốc dân Đảng cho chúa ngục Côn đảo nên bị đảng viên Quốc dân Đảng vây đánh hư mắt trái.
Năm 1936, ông được trả tự do, về Hải Phòng hoạt động cách mạng và xây dựng căn cứ riêng. Cũng trong thời gian này, ông đổi tên thành Nguyễn Bình, với ý nghĩa "Bình thiên hạ", chính thức ly khai Việt Nam Quốc dân Đảng. Tháng 6 năm 1945, Nguyễn Bình cùng với Hải Thanh, Nguyễn Hiền, Trần Cung thành lập chiến khu Đông Triều và đảm nhận nhiệm vụ tư lệnh. Khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra, ông chỉ huy du kích đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên và cướp vũ khí ở một số huyện.
Khi thực dân Pháp đánh chiếm rộng ra toàn Nam Bộ, Nguyễn Bình được Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cử vào Nam lo việc chỉnh đốn phong trào kháng chiến và thống nhất các lực lượng vũ trang tại Nam Bộ. Tháng 12 năm 1945 ông được cử làm Khu trưởng Khu 7 Nam Bộ, lập tổng hành dinh ở Lạc An (Biên Hòa), sau bị địch truy quét nên chuyển về xã An Phú (Gia Định) rồi xã An Thành, phía nam Bến Cát. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bình, tình trạng thiếu thống nhất trong lực lượng vũ trang ở miền Nam dần giảm bớt, các đơn vị gia nhập vào lực lượng Vệ quốc đoàn, các đơn vị bộ đội được phiên chế thống nhất thành các chi đội Vệ quốc đoàn. Ông còn lập ban Công tác thành làm nhiệm vụ phá hoại và ám sát tại Sài Gòn .Ngay sau ngày thành lập (12/12/1945), Trường Quân chính Khu 7 đã mở khoá học đầu tiên mang tên Khóa Hồ Chí Minh có 50 học viên do ông và đồng chí giám đốc Nguyễn Xuân Diệu làm Hiệu trưởng đầu tiên của trường, vũ khí trang bị huấn luyện rất ít, chủ yếu học bằng súng gỗ. Khoá học khai giảng tại An Sơn, mới được ít ngày đã bị pháo kích phải rời sang đất Nhị Bình (đối diện An Sơn) và sau lại chuyển sang Thuận Giao nhưng vẫn bị địch theo dõi đánh phá, trường vừa phải duy trì lớp học, vừa phải di chuyển căn cứ.
Ngày 20 tháng 1 năm 1948, ông được Chính phủ phong quân hàm Trung tướng và cử làm Tổng chỉ huy Chiến trường Nam Bộ sau khi kết thúc nhiệm kỳ Hiệu Trưởng Nhà trường. Cùng đợt có Võ Nguyên Giáp được phong Đại tướng; Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Lễ thụ phong Trung tướng được tổ chức tháng 7 năm 1948 tại làng Nhơn Hòa Lập trên con kênh Dương Văn Dương, Đồng Tháp.
Trung tướng Nguyễn Bình
Tháng 6 năm 1948, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi điện vào công nhận Ban Quân sự Nam Bộ và cử Trung tướng Nguyễn Bình giữ chức Ủy viên quân sự. Tháng 10 năm 1948, Bộ tư lệnh Nam Bộ được thành lập thay cho Ban Quân sự Nam Bộ, ông được bầu làm tư lệnh.Tuy nhiên, Nguyễn Bình không có được sự tin tưởng của các lực lượng vũ trang thuộc các giáo phái và đảng phái như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, Đại Việt Quốc dân Đảng, Việt Nam Quốc dân Đảng, Đệ Tứ Quốc tế tại Việt Nam... Khi đại hội Mặt trận Quốc gia Liên hiệp, tập hợp những lực lượng chính trị và quân sự phi cộng sản tại Nam Bộ, họp tại Quéo Ba bị Pháp đánh bom, các lực lượng tham dự đại hội nghi ngờ Nguyễn Bình là người chỉ điểm cho Pháp, một số sĩ quan trong Bộ tham mưu trung đoàn 25 Bình Xuyên có ý định ám sát ông. Nguyễn Bình bị Vũ Tam Anh, người từng bị Trần Văn Giàu ám sát hụt, là chỉ huy trưởng Đệ nhị Sư đoàn Dân quân Cách mạng và Bùi Hữu Phiệt là chỉ huy trưởng Trung đoàn 25 của Bình Xuyên ám sát tại Trung đoàn 4 của Huỳnh Văn Trí nhưng may mắn thoát chết. Sau đó trung đoàn trưởng Trung đoàn 5 Bình Xuyên Phạm Hữu Đức và trung đoàn trưởng Trung đoàn 25 Bình Xuyên Bùi Hữu Phiệt bị Nguyễn Bình giết chết còn Huỳnh Văn Trí, trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 Bình Xuyên, bị buộc phải rời bộ đội Bình Xuyên về Hồng Ngự ở Đồng Tháp Mười. Bảy Viễn, Tư lệnh phó Bình Xuyên đồng thời là khu phó Khu 7, sau khi họp với Nguyễn Bình tại Tân Uyên bị quân của Huỳnh Văn Nghệ phục kích theo lệnh Nguyễn Bình nhưng thoát chết nên về Sài Gòn hợp tác với Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam. Các đơn vị quân sự của Bình Xuyên lần lượt bị giải thể.
Ngày 29 tháng 9 năm 1951, theo yêu cầu của Trung ương, ông lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi, ông bị quân Pháp phục kích vây bắn và hy sinh tại xã Srê Dốc, huyện Sê San, tỉnh Xtung Treng, trên đất Campuchia. Người chỉ huy lực lượng bảo vệ ông khi ấy là cán bộ cấp tiểu đoàn Nguyễn Văn Sĩ, nay là Thiếu tướng nghỉ hưu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bộ Tổng Tư lệnh thông báo tin ông hi sinh ngày 31 tháng 12 năm 1951 (theo bản tin ông sinh năm 1906 tại Bần Yên Nhân, Hưng Yên). Tháng 2 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định ký sắc lệnh 84/SL truy tặng ông Huân chương Quân công hạng Nhất. Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được nhận Huân chương cao quý này.
Ngày 29 tháng 2 năm 2000, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 đã di chuyển hài cốt của ông về an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh. Tang lễ được cử hành theo nghi thức long trọng. Ông còn được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.



