Ba Tôi: Người Chiến Sĩ Thầm Lặng Nơi Chiến Trường

Ba từng kể cho tôi nghe những câu chuyện kháng chiến, nào là không có đồ ăn, phải bắt chuột để ăn, những hôm sốt rét không có thuốc uống, không có đồ giữ ấm, lạnh run người. Hiện tại ba tôi đã mất, tôi còn nhớ như in những câu chuyện của ba, tôi nhớ ba của mình.
Có những đêm mưa rơi xối xả bên hiên nhà, tôi lại ngồi đờ đẫn nhìn về phía chiếc bàn quen thuộc nơi góc nhà – nơi ba tôi, ông Trương Minh Tuấn, từng ngồi pha trà mỗi chiều. Nhưng giờ đây, chiếc bàn ấy đã không còn được ba sử dụng. Ba tôi trút hơi thở cuối cùng vào ngày 01/07/2025, để lại trong tôi một khoảng trống mênh mông không gì bù đắp nổi. Mặc dù ba đã đi xa, nhưng giọng nói trầm ấm cùng những câu chuyện về một thời chiến tranh gian khổ mà ba từng kể vẫn còn in sâu trong tâm trí tôi như mới vừa hôm qua.
Sinh ngày 18/06/1962, ba bước vào tuổi 18 – cái tuổi đẹp nhất của đời người – bằng một quyết định ngoan cường: gạt nước mắt chia tay gia đình để lên đường nhập ngũ vào ngày 14/08/1980 tại trung tâm huấn luyện Phú Tài. Mới ngày nào còn là một chàng thanh niên trẻ trung, chỉ sau ba tháng huấn luyện miệt mài, ba đã được điều động sang Tiểu đoàn 2-143. Thời gian sau, ba tiếp tục được điều về học y tá tại sư đoàn Bung Lung D16, rồi khoác lên mình chiếc balo người lính y tá thuộc đơn vị C1-D1-143-315, xông pha trực tiếp vào chiến trường K khốc liệt.
Tôi vẫn nhớ như in những đêm hai cha con ngồi bên hiên nhà khi cúp điện, ánh đèn dầu tù mờ hắt lên gương mặt hằn sâu vết thời gian của ba. Mỗi lần nhắc về chiến trường K, ánh mắt ba lại đau đớn và xa xăm. Ba kể rằng, sự gian khổ tột cùng của thời đi lính khi ấy không chỉ đến từ làn mưa bom mũi đạn hay những trận phục kích bất ngờ của kẻ thù, mà còn đến từ cái đói, cái rét và bệnh tật rình rập từng ngày giữa chốn rừng sâu nước độc.
Chiến trường K khi ấy thiếu thốn đến mức không thể tưởng tượng nổi. Lương thực tiếp tế thường xuyên bị đứt đoạn do đường rừng hiểm trở. Đơn vị của ba có những khoảng thời gian dài không còn lấy một hạt gạo hay củ sắn, cái đói cồn cào gặm nhấm từng khúc ruột của những người lính trẻ. Để duy trì sự sống và tiếp tục chiến đấu, ba và đồng đội phải đi mò mẫm khắp các lùm cây, bắt từng con chuột rừng, hái từng cọng rau dại hay săn tìm bất cứ thứ gì có thể ăn được. Nhưng có lẽ nghiệt ngã nhất vẫn là những cơn sốt rét rừng oái oăm. Ba kể, giọt nước mắt tôi lại chực trào ra khi hình dung cảnh ba lên cơn sốt: giữa đại ngàn âm u, rét mướt, không có một viên thuốc hạ sốt hay kháng sinh, cũng chẳng có lấy một tấm chăn ấm để đắp. Ba và các đồng đội chỉ biết nằm co quắp trên nền đất lạnh giá, toàn thân run lên cầm cập từng hồi, môi thâm tím vì cái lạnh gặm nhấm vào tận xương tủy.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Là một y tá chiến trường, nỗi đau của ba còn nhân lên gấp bội khi phải chứng kiến đồng đội mình ngã xuống hoặc chịu đựng thương tích dằn xé mà trong tay lại thiếu thốn dụng cụ y tế và thuốc men. Ba đã dùng đôi tay ấy cứu chữa cho bao nhiêu người lính, nhưng cũng chính đôi tay ấy đã nghẹn ngào khép mắt cho những người anh em không thể vượt qua mùa mưa rừng ngặt nghèo. Những đêm nghe ba kể chuyện, nhìn đôi bàn tay chai sần, gầy gộc của ba, lòng tôi lại nhói lên một niềm thương cảm và kính phục vô bờ. Tôi nhận ra rằng, đằng sau sự bình lặng, kiên cường của một người cha là cả một tuổi trẻ đầy hy sinh, mất mát và nghị lực phi thường.
Năm 1984, ba hoàn thành nghĩa vụ, phục viên trở về sống tại Ngọc Hiệp – Nha Trang. Ba trở lại với cuộc sống đời thường, vất vả lo toan gánh nặng cơm áo gạo tiền để nuôi dạy tôi khôn lớn, nhưng ba chưa bao giờ than thở dù chỉ một lời. Những ký ức chiến trường đau thương ấy ba gói lại đặt vào ngăn ngực trái, chỉ khi hai cha con thủ thỉ, ba mới trải lòng để tôi hiểu được giá trị của hòa bình và sự sống.
Giờ đây, ba đã đi về miền mây trắng. Căn nhà nhỏ ở vẫn còn đây, mọi thứ trong nhà vẫn còn đây, nhưng bóng dáng ba thì đã vĩnh viễn xa rời. Mối tình cảm, niềm tự hào và sự biết ơn sâu sắc mà tôi dành cho ba sẽ mãi mãi không bao giờ phai nhạt. Mỗi lần nhớ ba, tôi lại lật lại những trang ký ức, nhớ về hình ảnh người lính y tá Trương Minh Tuấn kiên cường năm nào. Ba không chỉ là một người cha kính yêu, mà còn là một người anh hùng thầm lặng trong lòng tôi. Dù ở nơi đâu, ba luôn là một tấm gương sáng về nghị lực trong cuộc sống khó khăn gian khổ. Con tin rằng, ba vẫn đang mỉm cười theo dõi chặng đường con đã và đang trải qua. Những câu chuyện của ba sẽ luôn sống mãi trong tâm trí con, là nguồn động lực vô tận để con luôn năng động, cống hiến hết sức trẻ của mình cho công tác Đoàn, cho địa phương như cách ba đã hiến dâng cả sức trẻ của mình cho Tổ quốc.



