BÁC HỒ ĐÃ THEO DÕI CHỈ ĐẠO TRẬN ĐÁNH MỞ MÀN CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI (16/9 - 14/10/1950)
Trong Chiến dịch Biên giới, mở màn bằng trận Đông Khê (16–18/9/1950), Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận theo dõi và chỉ đạo chiến dịch cùng Võ Nguyên Giáp. Quyết định đánh Đông Khê trước đã tạo thế tiêu diệt viện binh, mở đường giải phóng Cao Bằng – Lạng Sơn. Chiến thắng không chỉ mang ý nghĩa quân sự to lớn mà còn khắc họa hình ảnh vị lãnh tụ gần gũi, sâu sát chiến sĩ, biểu tượng của chiến tranh nhân dân và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Tháng 6/1950, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới trên hướng Cao Bằng - Lạng Sơn lấy mật danh là Lê Hồng Phong 2.
Ngày 7/7/1950, Bộ Tổng chỉ huy quyết định mở chiến dịch "Cao Bắc Lạng", Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy, kiêm chính ủy.
Mặc dù bận nhiều công việc hệ trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy cần phải có mặt trong chiến dịch lớn đầu tiên.
Tuần đầu tháng 8/1950, từ căn cứ địa, Bác đến Lam Sơn (Cao Bằng) làm việc với Tỉnh ủy, rồi sang Quảng Uyên tới làng Tả Phầy Tử (nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch) làm việc với Bộ Chỉ huy chiến dịch.
Tại đây, vấn đề đánh Cao Bằng trước, hay đánh Đông Khê trước đã được đưa ra thảo luận ở Hội nghị Đảng ủy Mặt trận ngày 16/8/1950. Đảng ủy nhất trí hoàn toàn với ý kiến của đồng chí bí thư là:
Đánh vào Cao Bằng trước chưa bảo đảm chắc thắng. Nên đánh vào Đông Khê trước, chiếm lấy cứ điểm, kéo viện binh ở Lạng Sơn lên, buộc chúng phải chui vào thế trận bày sẵn của ta để tiêu diệt.
Mục đích của chiến dịch phải lấy việc tiêu diệt sinh lực địch làm chính. Nếu tiêu diệt được nhiều sinh lực địch thì dù không đánh vào cứ điểm chính ta vẫn giải phóng được tỉnh Cao Bằng.
Phương án đánh Đông Khê trước được đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Mặt trận báo cáo trực tiếp với Bác.
Nghe xong, Người chưa phát biểu ngay mà còn hỏi lại một số cán bộ trong Bộ Chỉ huy và Cơ quan Mặt trận. Sau đó, Bác phát biểu phân tích đại ý:
"Bác đồng ý với phương án đánh Đông Khê trước. Phương án này có nhiều cái hay. Ta đánh vào Đông Khê trước là đánh vào nơi quân địch tương đối yếu, nhưng đây lại là điểm xung yếu trong hệ thống phòng thủ Biên giới của giặc. Cứ điểm Đông Khê bị diệt, địch khác nào như con thú què cẳng, nhất định phải lồng lộn lên phản ứng, tìm mọi cách chiếm lại để giữ Cao Bằng hoặc đón quân Cao Bằng rút về. Ta sẽ giấu quân ở những nơi do ta lựa chọn, bủa lưới thép săn thú vào tròng.
Quân viện của địch ta sẽ diệt được, lúc ấy ta muốn chiếm Cao Bằng không khó lắm. Nếu chúng lại tự rút bỏ Cao Bằng, càng tốt cho ta đánh địch trong vận động".
Cán bộ được dự hôm ấy chăm chú nghe Bác như nuốt lấy từng lời, từng ý của Người.
6 giờ sáng ngày 16/9/1950, quân ta nổ súng đánh Đông Khê mở màn chiến dịch. Trung đoàn 174 vinh dự được nhận nhiệm vụ chủ công đánh từ phía bắc xuống. Trung đoàn 209 là mũi diện đánh từ hướng nam lên. Trung đoàn 36 là lực lượng dự bị và đánh quân nhảy dù xuống cứu viện Đông Khê.
Theo yêu cầu của Bác muốn được theo dõi trực tiếp trận đánh mở màn, Bác được bố trí lên đài quan sát của chiến dịch ở đông bắc thị trấn Đông Khê. Đứng trên ngọn núi, Bác trực tiếp quan sát bằng ống nhòm có bội số lớn - Bác chăm chú nhìn xuống cứ điểm giặc - vừa đối chiếu với bản đồ tham mưu vừa nhìn vào sơ đồ trận đánh, vừa nghe một cán bộ của Bộ Chỉ huy báo cáo tình hình.
Máy bay địch gầm rít bỏ bom, bắn phá các khu vực ngoại vi cứ điểm Đông Khê, có lúc xà thấp hơn cả ngọn núi Bác đang đứng quan sát.
Việc Bác Hồ ra mặt trận, lại trực tiếp theo dõi trận mở màn chiến dịch Biên giới càng làm cho mọi người thấy ý nghĩa quan trọng của chiến dịch.
Bác đi chiến dịch vẫn ung dung, thư thái, vẫn chan chứa chất thơ trong tâm hồn và cũng không có lời động viên nào mạnh mẽ bằng cảnh tượng Bác Hồ
Vạn trùng núi ấp, vạn trùng mây
Quân ta khí mạnh nuốt ngưu đẩu
Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy".
Ta nổ súng tiến công lúc 6 giờ. Mũi chủ công, trung đoàn 174, đến 9 giờ sáng chiếm được yên ngựa Cạm Phày, 10 giờ chiếm được Phia Khóa. Nhưng khi tiến công vào Đồn to lại phải vượt qua bãi trống, nên bị hỏa lực địch chặn lại gặp nhiều khó khăn. Ba lần tổ chức tấn công không thành công vì qua đột phá khẩu gặp phải địa hình bằng phẳng (Sau trận Đông Khê I 25/5 chúng sửa chữa, san ủi phẳng lì) tập trung các loại hỏa lực vào đó, nên tiểu đoàn 251 chủ công bị thương vong nặng, không tiến lên được.
Ở mũi diện, trung đoàn 209 có bộ phận đi lạc nên không kịp hiệp đồng chiến đấu. Khi trung đoàn nổ súng tiến công phát triển thuận lợi, nhưng sau đó cũng bị chặn lại. Sau một ngày đêm chiến đấu quyết liệt, ta vẫn chưa chiếm được Đồn to. Địch bị thiệt hại nặng, nhưng ta cũng có nhiều thương vong.
Qua quan sát và được báo cáo của đồng chí Hoàng Văn Thái, người chỉ huy trận đánh, Bác đồng ý với Bộ Chỉ huy cho đơn vị tạm lui ra ngoài Đồn to, chấn chỉnh lại đội hình, củng cố thêm quyết tâm. Người chỉ thị: Dù khó khăn đến đâu cũng kiên quyết khắc phục, đánh cho kỳ thắng trận đầu.
Cả ngày 17/9, theo chỉ thị của Mặt trận, quân ta chấn chỉnh lại bộ đội, đơn vị 174 chuyển hướng đột phá sang hướng đông bắc, bố trí lại hiệp đồng giữa pháo cối để chế áp có hiệu quả pháo binh địch.
Cán bộ, chiến sĩ nghiên cứu thư của Bác gửi ngày 9/9/1950, gửi đồng bào Cao Bắc Lạng. Nội dung thư:
"Hỡi đồng bào Cao Bắc Lạng yêu quý, quân ta mở chiến dịch Cao Bắc Lạng. Chiến dịch này rất quan trọng cho Cao Bắc Lạng và cho cả toàn quốc. Hỡi các chiến sĩ yêu quý, chiến dịch Cao Bắc Lạng rất quan trọng, chúng ta quyết đánh thắng trận này".
Được thư Bác động viên, tinh thần cán bộ, chiến sĩ ai nấy đều quyết tâm, dù khó khăn đến đâu cũng kiên quyết khắc phục đánh thắng trận đầu.
17 giờ ngày 17/9, ta đồng loạt nổ súng mở đợt tấn công mới vào Đồn to (trung tâm Đông Khê). Ta nhanh chóng chiếm được nhiều vị trí trong thị trấn (Phủ Thiên, nhà thương, khu phố), nhưng khi tấn công vào Đồn to thì vấp phải sự kháng cự liệt quyết của địch. Ta phải chiến đấu chiếm từng đoạn giao thông hào có nắp, từng ngách hầm hào, từng lô cốt mới được củng cố thêm, chiến đấu diệt từng hỏa điểm bí mật của địch.
Cuộc chiến đấu giằng co kéo dài. Xuất hiện nhiều gương chiến đấu dũng cảm: 3 anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2 liệt sĩ) tiêu biểu cho lá cờ đầu trong phong trào thi đua yêu nước.
Đến 4 giờ sáng ngày 18/9, đơn vị 174 thọc sâu được vào Sở chỉ huy Đồn to phối hợp với các mũi tiến công của trung đoàn 209 đánh chiếm toàn bộ Đồn to và thị trấn Đông Khê. Tên đồn trưởng Aliúc cùng một số sĩ quan Pháp định vượt rào chạy ra phía đông nam nhưng bị ta bắt.
10 giờ sáng, trận Đông Khê kết thúc thắng lợi. Ta tiêu diệt và bắt sống 500 tên địch, bắn rơi một máy bay chiến đấu, thu toàn bộ vũ khí quân trang, quân dụng.
Trung đoàn 174 và trung đoàn 209 đã hoàn thành nhiệm vụ đánh thắng trận đầu, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi.
Sau chiến thắng Đông Khê, Bác Hồ đi thăm thương binh. Tới bệnh viện đã chiến, vốn dễ xúc động, Bác đã phải cố nén lòng để an ủi động viên các chiến sĩ bị thương an tâm điều trị chóng trở lại tham gia chiến đấu. Tuy vậy, có lúc Người không sao cầm được nước mắt khi thăm thương binh nặng. Phần chiến lợi phẩm thu được gửi lên tặng Bác, Bác chỉ để lại một ít, còn chia cho các đồng chí cảnh vệ và biếu nhân dân địa phương gần nơi Bác ở, còn phần lớn Bác bảo mang cho anh em thương binh ở bệnh viện dã chiến.
Theo lời kể của anh Cao Pha (trưởng ban Quân báo chiến dịch Biên giới 1950), một hôm Bác đến chỉ huy sở gọi anh và bảo đưa Bác đi gặp tù binh. Anh lúng túng, không biết làm thế nào để giữ bí mật, sợ tù binh nhận ra Bác, thì Bác đã chỉ thị cho bác sĩ đem thuốc đỏ và bông, băng râu Bác lại y như một chiến sĩ bị thương. Thật là tuyệt diệu. Anh cho người chạy ra báo cho đồng chí Nghiêm Xuân Hiếu, cán bộ quân báo đang hỏi cung ở trại, chuẩn bị gấp cho cán bộ cấp trên đến gặp tù binh.
Anh Cao Pha đưa Bác đến trạm. Ba sĩ quan tù binh (một đại uý đồn trưởng Đông Khê và hai trung úy) đứng dậy khi thấy Bác vào. Bác nói ngay:
- Tôi tự giới thiệu là Việt kiều ở Pháp đã tham gia cuộc chiến tranh 1914-1918 cùng nhân dân Pháp chống Đức. Nghe theo lời kêu gọi của Chính phủ Hồ Chí Minh, tôi về cùng đồng bào tôi kháng chiến. Các anh đến đây để làm gì? Tên đồn trưởng trả lời1:
- Chúng tôi đến đây theo lệnh cấp trên.
- Các anh đều là những kẻ "thực dân". Nhân dân Việt Nam chống đế quốc Pháp xâm lược để bảo vệ Tổ quốc mình cũng như nhân dân Pháp chống phát xít Đức trước đây. Bây giờ các anh đã bị bắt làm tù binh. Các anh phải tuân theo những quy định của trại. Sau này, nếu các anh có thái độ tốt thì tôi sẽ nghiên cứu cho các anh hồi hương. Các anh có ý kiến gì thì gửi lên tôi theo địa chỉ này "Nguyễn Thắng - Cố vấn chính trị mặt trận".
Lần đầu tiên, anh Cao Pha được nghe Bác nói tiếng Pháp, hay quá, rất chuẩn. Ba tên tù binh mở mắt to ngạc nhiên.
Trên đường về, Bác cho biết hôm trước Bác gặp một toán tù binh được giải về trại. Thấy có một tù binh bị thương áo bị rách, Bác đã cho cái áo...
Hơn nửa thế kỷ đã đi qua. Hình ảnh Bác Hồ ra mặt trận (đi chiến dịch) dự trận đánh mở màn vẫn đọng lại trong lòng cán bộ chiến sĩ thời chống Pháp được tham gia chiến dịch lớn đầu tiên, chiến dịch Biên giới (16/9 - 14/10/1950).
Nó là hình ảnh tiêu biểu của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Cả lãnh tụ và nhân dân gắn bó chan hòa làm một với người chiến sĩ ngoài mặt trận.
Hình ảnh độc đáo này chỉ có thể tìm thấy trong chiến tranh cách mạng Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Trận mở màn có Bác Hồ theo dõi chỉ đạo có hai tình tiết đặc sắc và lý thú:
1. Ngày 16/9, ta nổ súng đánh Đông Khê thì cũng là ngày Các-păng-chi-ê, tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương ký lệnh rút khỏi Cao Bằng. Trận Đông Khê thắng lợi tạo điều kiện cho đại đoàn 308, trung đoàn 209 bao vây tiêu diệt hai binh đoàn Lepage và Charton ở Khâu Luông - Cốc Xá, buộc địch phải rút chạy từ Thất Khê về Lạng Sơn và bỏ cả Lạng Sơn (khi chưa có lệnh), Lộc Bình - Đình Lập chạy về tận thị xã Bắc Giang.
Một giải biên cương miền bắc nước ta sạch bóng quân thù (trừ Lai Châu và Tiên Yên - Móng Cái).
Hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn hoàn toàn được giải phóng. Cửa ngõ ra quốc tế được mở toang, nối liền Việt Nam kháng chiến với hậu phương bao la là các nước anh em xã hội chủ nghĩa (cũ).
2. Trận Đông Khê 2 còn tượng trưng cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Việt Nam.
Trong một trận đánh mà có tới ba anh hùng lực lượng vũ trang được tuyên dương:
Lý Văn Mưu (liệt sĩ 174) bị thương lảo đảo ngã gục xuống vẫn gượng dậy cố trườn lên đưa quả bộc phá tới lỗ châu mai. Lô cốt giặc sụp đổ. Mưu cũng hy sinh.
Trần Cừ (liệt sĩ 209), đại đội trưởng, bị thương đã nén đau, nhảy lên ném thủ pháo cuối cùng vào lỗ châu mai và dùng cả thân mình bịt hỏa điểm địch làm cho nó câm họng (Đây là anh hùng bịt lỗ châu mai Việt Nam).
La Văn Cầu (174 hiện còn sống) bị bắn gãy tay phải, quay lại yêu cầu đồng đội chặt đứt cho đỡ vướng, rồi ôm bộc phá lao lên phá tan lô cốt mở đường cho đơn vị xung phong an toàn.
Trận đánh này là một trận đánh tiêu biểu về nhiều mặt, có giá trị nghiên cứu về chiến thuật và chiến dịch cao, một trận đánh hiếm có (được lãnh tụ Đảng, Chủ tịch nước quan sát chỉ đạo), có nhiều gương sáng hy sinh biểu hiện khí phách anh hùng, lại mang tính sử thi đậm nét. Mong các nhà khoa học lịch sử nghiên cứu sâu thêm để có những tài liệu học tập tham khảo cho các thế hệ sau.



