Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Bác Hồ ra mặt trận Biên giới năm 1950

Cuối tháng 8, đầu tháng 9 năm 1950, khi Chiến dịch Biên giới đang được chuẩn bị, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định trực tiếp lên mặt trận Cao – Bắc – Lạng. Đây là một quyết định đặc biệt, bởi Chiến dịch Biên giới là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của quân đội ta sau những năm đầu kháng chiến. Từ căn cứ Việt Bắc, Người vượt núi, qua suối, hành quân trong điều kiện gian khổ để trực tiếp kiểm tra công tác chuẩn bị, theo dõi tình hình và động viên cán bộ, chiến sĩ, dân công. Sáng 16/9/1950, Người lên núi Báo Đông, trực tiếp quan sát trận đánh Đông Khê mở màn chiến dịch. Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đài quan sát giữa chiến trường đã trở thành một trong những bức ảnh lịch sử tiêu biểu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Nghệ An08/10/2026Xã Đak Nhau (Đoàn xã Đak Nhau)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Bác Hồ ra mặt trận Biên giới năm 1950

Tháng 6/1950, trước những chuyển biến quan trọng của tình hình trong nước và quốc tế, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới. Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực quân Pháp, giải phóng một phần vùng biên giới, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, đồng thời khai thông tuyến giao thông quốc tế để tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ từ bên ngoài. Đây là một chiến dịch có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc kháng chiến, bởi quân đội ta lần đầu tiên huy động lực lượng chủ lực với quy mô lớn để tiến công một hệ thống phòng ngự của đối phương.

Bộ Chỉ huy Chiến dịch do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy. Các đơn vị chủ lực được huy động gồm Đại đoàn 308 cùng các Trung đoàn 174, 209 và nhiều lực lượng địa phương, dân công, hậu cần. Sau khi cân nhắc các phương án, Bộ Chỉ huy quyết định chọn Đông Khê làm mục tiêu tiến công đầu tiên thay vì đánh thẳng vào Cao Bằng. Đông Khê nằm trên Đường số 4, giữa Cao Bằng và Thất Khê, là một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ của quân Pháp. Phương châm tác chiến được xác định là “đánh điểm, diệt viện”, tức đánh chiếm cứ điểm để buộc đối phương đưa quân cứu viện rồi tổ chức tiêu diệt lực lượng viện binh.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tầm quan trọng của chiến dịch khiến Người muốn trực tiếp đến mặt trận thay vì chỉ chỉ đạo từ căn cứ. Theo tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh, từ cuối tháng 8/1950, Người lên đường từ căn cứ Việt Bắc và đầu tháng 9 bắt đầu hành quân về hướng Cao Bằng. Chuyến đi diễn ra trong điều kiện rừng núi hiểm trở, đường xa, mưa gió và phải giữ bí mật. Có lúc cán bộ, chiến sĩ tìm được một con ngựa để Người sử dụng, nhưng Người không muốn để một mình mình cưỡi ngựa trong khi những người khác vẫn phải đi bộ, nên chỉ cho ngựa mang hành lý và lương thực để mọi người thay nhau sử dụng khi mệt.

Trên đường ra mặt trận, Người không chỉ quan tâm đến tình hình quân sự mà còn kiểm tra công tác hậu cần và đời sống của lực lượng tham gia chiến dịch. Ngày 2/9/1950, tại Hội nghị Quốc phòng, Người nhấn mạnh yêu cầu tập trung bảo đảm tiếp tế cho chiến dịch. Ngày 9/9, Người ra lời kêu gọi đồng bào Cao – Bắc – Lạng tích cực tham gia, giúp đỡ để chiến dịch giành thắng lợi. Những chỉ đạo đó cho thấy chiến dịch không chỉ là hoạt động của các đơn vị chủ lực mà là một cuộc huy động lớn về sức người, sức của của hậu phương và nhân dân các địa phương.

Tại sở chỉ huy chiến dịch ở khu vực Tả Phầy Nưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình và kế hoạch tác chiến. Theo tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh, kế hoạch được triển khai theo các bước: đánh Đông Khê, đánh quân viện lên Đông Khê, tiến tới Thất Khê và sau đó hướng về Cao Bằng. Người trực tiếp kiểm tra kế hoạch, theo dõi công tác chuẩn bị và động viên cán bộ, chiến sĩ. Sự có mặt của Người tại mặt trận cũng thể hiện mức độ quan trọng mà Trung ương dành cho chiến dịch này.

Ngày 15/9, trước giờ nổ súng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở khu vực hang Không Hẩu và nghe cán bộ quân báo báo cáo tình hình địch, ta. Người bày tỏ mong muốn được trực tiếp quan sát trận địa. Rạng sáng 16/9, Người được đưa lên đài quan sát trên núi Báo Đông, một điểm cao có tầm nhìn bao quát khu vực Đông Khê. Đây là nơi Bộ Chỉ huy chiến dịch bố trí đài quan sát để theo dõi diễn biến trận đánh.

Khoảng 6 giờ sáng ngày 16/9/1950, tiếng súng mở màn Chiến dịch Biên giới vang lên tại Đông Khê. Từ núi Báo Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm chú theo dõi trận đánh qua ống nhòm, đồng thời đối chiếu với bản đồ tác chiến và nghe cán bộ báo cáo diễn biến. Máy bay Pháp hoạt động trên khu vực, ném bom và bắn phá những vị trí mà chúng nghi có lực lượng của ta. Trong hoàn cảnh ấy, Người vẫn ở trên đài quan sát theo dõi trận đánh.

Chính tại núi Báo Đông, nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Năng An đã ghi lại bức ảnh “Chủ tịch Hồ Chí Minh quan sát mặt trận Đông Khê”. Trong ảnh, Người mặc quân phục giản dị, ngồi trên một điểm cao và chăm chú hướng về chiến trường. Bức ảnh không chỉ ghi lại chân dung một vị lãnh tụ mà còn trở thành tư liệu trực quan về sự hiện diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại một trận đánh lớn của cuộc kháng chiến. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết bức ảnh này nhiều năm được trưng bày trang trọng tại Bảo tàng và được xem là một trong những hình ảnh lịch sử tiêu biểu về Người trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Núi Báo Đông cũng gắn với một bài thơ chữ Hán Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác trong ngày 16/9/1950. Bài thơ thường được biết đến với tên “Đăng sơn”, mở đầu bằng câu “Huề trượng đăng sơn quan trận địa”, có thể hiểu là chống gậy lên núi xem trận địa. Những câu thơ còn lại thể hiện niềm tin vào tinh thần chiến đấu của quân đội và quyết tâm đánh bại quân xâm lược. Việc bài thơ ra đời ngay trong thời điểm Người trực tiếp quan sát trận đánh khiến núi Báo Đông trở thành một địa điểm vừa có giá trị lịch sử quân sự, vừa gắn với một dấu ấn trong di sản văn chương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trận Đông Khê diễn ra trong 54 giờ, từ ngày 16 đến ngày 18/9/1950. Quân ta lần lượt tiến công các vị trí phòng ngự, từng bước phá vỡ hệ thống cứ điểm của quân Pháp. Đến khoảng 10 giờ ngày 18/9, quân ta làm chủ Đông Khê. Việc mất Đông Khê khiến hệ thống phòng thủ của Pháp trên Đường số 4 bị đe dọa nghiêm trọng và buộc quân Pháp phải tổ chức lực lượng ứng cứu, từ đó tạo điều kiện để quân ta triển khai thế trận “diệt viện” theo kế hoạch chiến dịch.

Sau thắng lợi Đông Khê, chiến dịch tiếp tục phát triển với những trận đánh lớn trên Đường số 4. Quân Pháp phải rút khỏi một loạt vị trí trong khu vực biên giới, trong khi lực lượng ta tổ chức đánh các binh đoàn viện binh và lực lượng rút chạy. Chiến dịch Biên giới thường được xác định trong khoảng từ ngày 16/9 đến 14/10/1950, trong khi một số tài liệu về diễn biến mở rộng của chiến dịch ghi nhận các hoạt động quân sự tiếp tục sau thời điểm 14/10. Kết quả chung là quân Pháp bị tổn thất nặng, tuyến biên giới Việt – Trung được khai thông và căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng, củng cố.

Chiến thắng Biên giới năm 1950 có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc kháng chiến. Đây là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên mà quân đội ta giành thắng lợi trước một hệ thống phòng ngự tương đối mạnh của quân Pháp. Thắng lợi giúp phá thế bao vây, cô lập căn cứ địa Việt Bắc, mở thông tuyến liên lạc quốc tế và tạo điều kiện để quân đội ta từng bước giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Cổng thông tin về Chủ tịch Hồ Chí Minh đều đánh giá chiến dịch là một bước phát triển quan trọng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Điều đáng chú ý khi nhìn lại chuyến đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là hình ảnh Người đứng trên một đài quan sát giữa chiến trường. Chuyến đi cho thấy cách lãnh đạo chiến tranh gắn chặt giữa quyết định ở cấp chiến lược với việc nắm tình hình thực tế tại mặt trận. Người trực tiếp nghe báo cáo, kiểm tra kế hoạch, quan sát trận đánh và động viên cán bộ, chiến sĩ, dân công. Trong điều kiện chiến tranh, sự hiện diện ấy cũng là một nguồn động viên tinh thần đối với lực lượng đang trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến dịch.

Ngày nay, núi Báo Đông cùng nhiều địa điểm khác của Chiến dịch Biên giới đã nằm trong Khu di tích Quốc gia đặc biệt Địa điểm Chiến thắng Biên giới năm 1950. Tại đỉnh núi hiện có đài quan sát và cụm tượng mô phỏng hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh quan sát trận địa, dựa trên bức ảnh của nhiếp ảnh gia Vũ Năng An. Con đường lên núi gồm 846 bậc, được xây dựng để phục vụ việc tham quan, tìm hiểu di tích. Những dấu tích này giúp câu chuyện về Chiến dịch Biên giới không chỉ tồn tại trong sách vở mà còn được gắn với không gian lịch sử cụ thể.

Bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trên núi Báo Đông vì thế có giá trị vượt ra ngoài ý nghĩa của một hình ảnh tuyên truyền hay một khoảnh khắc được ghi lại trong chiến tranh. Đó là tư liệu trực quan về một sự kiện có thật, gắn với địa điểm, thời gian và những nhân chứng cụ thể. Từ hình ảnh ấy, người xem có thể tìm hiểu rộng hơn về Chiến dịch Biên giới, về trận Đông Khê, về những người lính đã chiến đấu trên Đường số 4 và về sự đóng góp của hậu phương Việt Bắc cho chiến trường.

Hơn bảy thập niên sau, dấu chân của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường ra mặt trận Biên giới năm 1950 vẫn được lưu giữ qua những bức ảnh, tài liệu và di tích ở Cao Bằng. Bảo tồn núi Báo Đông, Đông Khê và các địa điểm liên quan không chỉ là giữ lại một không gian lịch sử mà còn là giữ lại những chứng cứ giúp thế hệ sau hiểu đúng hơn về một bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Lịch sử của một chiến thắng lớn được tạo nên từ quyết định chiến lược, sự chỉ huy, sức chiến đấu của bộ đội và sự đóng góp của hàng vạn người dân phía sau mặt trận; trong đó, chuyến đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tận chiến trường năm 1950 là một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử Chiến dịch Biên giới.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn