Bài viết

Bác Hồ t5

Quảng Ngãi19/10/2026THPT Đồng Phú nguyễn hoàng phúc (Đoàn xã Đồng Phú)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

BÁC HỒ - CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

(Tập 5: Từ bài 21 đến bài 25)

21. Đêm Giao thừa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Năm 1946, nhân dân Việt Nam đón cái Tết Độc lập đầu tiên sau hơn 80 năm dài đắm chìm trong đêm đen nô lệ. Đêm Giao thừa năm ấy (Tết Bính Tuất), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một kỷ niệm xúc động và sâu sắc trong lòng người dân Thủ đô khi Người quyết định đi vi hành, chúc Tết những gia đình nghèo khổ nhất.

Trời Hà Nội rét căm căm, lất phất mưa phùn. Thay vì tham dự các buổi tiệc tùng hay đón tiếp các quan chức, Bác Hồ cải trang trong bộ quần áo giản dị, đội nón lá, khoác áo mưa bạt, cùng vài đồng chí bảo vệ lặng lẽ đi vào các ngõ hẻm nghèo của thành phố. Người dừng chân trước một túp lều rách nát ở ngõ Hẻm (khu vực bãi Phúc Xá). Đó là nhà của gia đình chị Tín - một người gánh nước thuê. Đêm 30 Tết, trong nhà chị không có nhang đèn, không bánh chưng, không có hoa đào, chị vẫn phải đi gánh nước thuê để kiếm nốt vài đồng mua gạo cho con.

Khi Bác bước vào, thấy cảnh tượng đó, Người đã rưng rưng nước mắt. Chị Tín đi gánh nước về, nhìn thấy Bác, chị đánh rơi cả đòn gánh, quỳ xuống ôm chầm lấy Bác mà khóc: "Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm!". Bác Hồ rơm rớm nước mắt, nhẹ nhàng đỡ chị dậy và nói: "Bác không đến thăm những người như mẹ con thím thì Bác đến thăm ai?". Bác đã lấy bánh chưng, mứt kẹo và quà Tết chuẩn bị sẵn để tặng cho các con chị Tín.

Câu chuyện đêm Giao thừa năm 1946 là minh chứng cảm động nhất cho tình yêu thương bao la của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho nhân dân. Trái tim của vị lãnh tụ luôn đập cùng nhịp đập với những người lao động nghèo khổ nhất. Sự quan tâm chân thành ấy đã tiếp thêm sức mạnh, niềm tin vững chắc cho đồng bào Thủ đô và cả nước vào chế độ mới, vào người Cha già kính yêu của dân tộc.

22. Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) - Lời hịch non sông

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp rắp tâm cướp nước ta một lần nữa. Mặc dù Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhân nhượng, ký Hiệp định Sơ bộ (6/3) và Tạm ước (14/9/1946) để gìn giữ hòa bình, nhưng thực dân Pháp vẫn liên tiếp gây hấn, gây ra các vụ thảm sát ở Hải Phòng, Hà Nội. Giọt nước đã tràn ly, nền độc lập của dân tộc đứng trước nguy cơ bị tước đoạt.

Đêm 19 tháng 12 năm 1946, tại ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Dương ở làng Vạn Phúc (Hà Đông), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng, quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Ngay trong đêm đó, Bác đã tự tay soạn thảo "Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến" - một văn kiện lịch sử mang tính chất như một lời hịch cứu quốc.

Sáng ngày 20/12/1946, qua Đài Tiếng nói Việt Nam, giọng nói trầm hùng, kiên quyết của Bác vang lên khắp mọi miền Tổ quốc: "Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".

Lời kêu gọi của Bác ngắn gọn, súc tích nhưng chứa đựng một sức mạnh tinh thần to lớn, là tiếng gọi của non sông đất nước lúc nguy nan. Hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng ấy, cả dân tộc Việt Nam, từ người già đến trẻ em, từ miền ngược đến miền xuôi, đã nhất tề đứng lên cầm vũ khí: "Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc". Toàn quốc bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ suốt 9 năm để bảo vệ nền độc lập mới giành được.

23. Bác Hồ ở an toàn khu (ATK) Việt Bắc và bài thơ 'Cảnh rừng Việt Bắc'

Bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng rút lên căn cứ địa Việt Bắc. Vùng rừng núi Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn đã trở thành Thủ đô Kháng chiến, An toàn khu (ATK) che chở cho Bác và các cơ quan đầu não.

Cuộc sống của Bác ở ATK vô cùng gian khổ. Bác sống trong những căn lán cọ đơn sơ, vách nứa, được dựng dưới những tán cây cổ thụ để tránh máy bay địch. Bữa ăn hằng ngày chỉ có măng rừng, rau tàu bay, thịt luộc chấm muối vừng, nhưng lúc nào Bác cũng giữ phong thái ung dung, tự tại. Bác làm việc không biết mệt mỏi, vừa chỉ đạo các mặt trận, vừa chăm lo xây dựng hậu phương vững mạnh. Sau những giờ làm việc căng thẳng, Bác thường cùng các đồng chí bảo vệ trồng rau, nuôi gà, đánh bóng chuyền, rèn luyện sức khỏe.

Chính giữa khung cảnh núi rừng hoang sơ, gian khổ mà hào hùng ấy, tâm hồn thi sĩ của Bác lại càng thăng hoa. Bác đã sáng tác nhiều bài thơ hay về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Bài thơ "Cảnh rừng Việt Bắc" (1947) là một trong những thi phẩm xuất sắc nhất:

"Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,

Vượn hót chim kêu suốt cả ngày,

Khách đến thì mời ngô nếp nướng,

Săn về thường chén thịt rừng quay,

Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,

Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.

Kháng chiến thành công ta trở lại,

Trăng xưa, hạc cũ với xuân này."

Bài thơ toát lên một tinh thần lạc quan cách mạng tuyệt vời. Cảnh vật thiên nhiên Việt Bắc qua ánh mắt của Bác không hề u ám, khắc nghiệt mà tràn đầy sức sống, thi vị và lãng mạn. Giữa bộn bề gian lao của cuộc chiến tranh, vị Chủ tịch nước vẫn giữ được một tâm hồn tĩnh tại, tin tưởng tuyệt đối vào ngày mai chiến thắng ("Kháng chiến thành công ta trở lại"). Việt Bắc đã trở thành một biểu tượng đẹp trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

24. Chuyến đi thực tế tại Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950

Năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta bước sang giai đoạn quyết liệt. Trung ương Đảng và Bác Hồ quyết định mở Chiến dịch Biên giới nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, khai thông biên giới Việt - Trung để mở rộng đường giao lưu với quốc tế, tạo đà đưa cuộc kháng chiến tiến lên.

Điều đặc biệt trong chiến dịch này là Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi đó đã 60 tuổi, quyết định đích thân ra mặt trận để trực tiếp chỉ đạo và động viên quân dân. Đây là sự kiện có một không hai trong lịch sử quân sự hiện đại. Bác mặc bộ quần áo nâu, vai khoác khăn, chân đi dép cao su, chống gậy cùng các chiến sĩ trèo đèo, lội suối ra trận. Sự hiện diện của Bác tại mặt trận Đông Khê, Thất Khê đã thổi một luồng sinh khí mạnh mẽ, cổ vũ tinh thần chiến đấu cao độ cho hàng vạn bộ đội, dân công.

Tại đài quan sát trên núi Báo Đông (thuộc tỉnh Cao Bằng), Bác Hồ đã trực tiếp theo dõi diễn biến của trận đánh đồn Đông Khê. Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc Bác chăm chú nhìn qua ống nhòm, phong thái ung dung, đôi mắt sắc sảo bao quát chiến trường đã trở thành một biểu tượng bất diệt về một vị "Tổng Tư lệnh tối cao" luôn sát cánh cùng chiến sĩ.

Trong chiến dịch, Bác còn dành thời gian đến thăm hỏi các thương binh tại trạm quân y dã chiến. Thấy một chiến sĩ bị thương nặng, Bác rớt nước mắt, tự tay đút từng thìa cháo cho anh. Có một đêm, trời mưa rét, Bác đã nhường chiếc áo khoác của mình cho một dân công đang run cầm cập vì lạnh. Chiến dịch Biên giới 1950 thắng lợi rực rỡ, đập tan phòng tuyến của địch. Chiến thắng vĩ đại đó có sự đóng góp vô giá từ nguồn động viên tinh thần to lớn của vị Cha già dân tộc - người đã không quản ngại đạn bom, trực tiếp cùng quân dân nếm mật nằm gai nơi tuyến đầu tổ quốc.

25. Chiếc áo lụa và tình cảm của Bác dành cho thương binh

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành những tình cảm yêu thương, trân trọng và sự quan tâm sâu sắc nhất cho các thương bệnh binh, liệt sĩ - những người đã hiến dâng xương máu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Tình cảm ấy không chỉ thể hiện qua các chính sách lớn của nhà nước mà còn qua những hành động vô cùng giản dị, chân thành của Bác.

Năm 1947, Bác đã chỉ thị chọn ngày 27/7 hàng năm làm "Ngày Thương binh - Liệt sĩ" để toàn dân tưởng nhớ và đền ơn đáp nghĩa. Đặc biệt, có một câu chuyện về chiếc áo lụa cảm động còn được lưu truyền mãi. Chuyện kể rằng, trong một dịp mùa đông rét mướt ở Chiến khu Việt Bắc, đồng bào một địa phương đã gửi tặng Bác một chiếc áo lụa mỏng để Bác mặc giữ ấm. Cầm chiếc áo trên tay, Bác rất xúc động trước tấm lòng của đồng bào, nhưng Người lại trầm ngâm suy nghĩ.

Ngay sau đó, Bác đã gửi kèm chiếc áo lụa đó cùng một bức thư đến bác sĩ Vũ Đình Tụng - Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh lúc bấy giờ. Bác nhờ đem bán đấu giá chiếc áo để lấy tiền mua sắm quần áo ấm, chăn màn cho thương binh. Trong một bức thư khác gửi cho anh em thương binh, Bác viết: "Bác không có gì, chỉ có một chiếc áo lụa của đồng bào tặng, Bác gửi đến các đồng chí để làm giải thưởng cho những người có thành tích...".

Thậm chí, trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, hàng tháng Bác đều trích một phần lương ít ỏi của mình để gửi tặng quỹ thương binh. Bác thường xuyên đến thăm các trạm xá, bệnh viện quân y. Mỗi lần đến, Bác luôn ân cần hỏi han vết thương, tự tay chia kẹo, chia quà cho từng người. Bác dặn dò cán bộ, bác sĩ y tá phải chăm sóc thương binh như người ruột thịt của mình. Chiếc áo lụa nhường cho thương binh năm ấy chỉ là một trong vô vàn nghĩa cử cao đẹp, chứng minh cho một trái tim mênh mông như biển cả của Lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với những người đã hy sinh vì đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Bác Hồ t5 | Câu chuyện thời hoa lửa