Bác Hồ – Vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam
Bác Hồ vị lãnh tựu vĩ đại của Đất Nước Việt Nam

“Có một người mà khi nhắc đến tên,
Triệu trái tim Việt Nam đều xúc động.
Có một người đã dành trọn cuộc đời cho dân tộc,
Để non sông hôm nay được nở hoa độc lập.”
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có biết bao vị anh hùng đã ngã xuống vì Tổ quốc. Nhưng có lẽ chưa từng có ai được nhân dân kính yêu và trân trọng như Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, người cha già của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời của Bác là cả một hành trình dài đầy gian khổ, hi sinh nhưng cũng vô cùng vĩ đại. Từ cậu bé sinh ra nơi làng quê nghèo xứ Nghệ đến vị Chủ tịch nước đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Bác đã dành trọn trái tim, trí tuệ và cả cuộc đời mình cho nhân dân, cho đất nước. Dù thời gian có trôi qua bao lâu, hình ảnh của Người vẫn luôn sáng mãi như ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam tiến bước.
Hồ Chí Minh tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Quê hương Nghệ An vốn nổi tiếng là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, hiếu học và kiên cường. Bác sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng giàu lòng yêu nước. Cha của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc – một vị quan thanh liêm, thương dân như con. Mẹ là bà Hoàng Thị Loan – người phụ nữ tần tảo, giàu đức hi sinh. Chính tình yêu thương của gia đình cùng những bài học về lòng nhân ái, sự trung thực và tinh thần yêu nước đã nuôi dưỡng tâm hồn của Bác từ thuở nhỏ.
Ngay từ khi còn nhỏ, Bác đã chứng kiến cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, nhân dân phải sống trong cảnh lầm than, cực khổ. Những hình ảnh đau thương ấy khiến Người luôn day dứt và suy nghĩ về con đường cứu nước. Khi trưởng thành, Bác từng học tại trường Quốc học Huế – nơi đã hun đúc thêm tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh trong Người. Tuy nhiên, Bác sớm nhận ra rằng những con đường cứu nước cũ đều chưa thể mang lại độc lập thật sự cho dân tộc.
Ngày 5 tháng 6 năm 1911 là một dấu mốc lịch sử vô cùng quan trọng. Với tên gọi Nguyễn Tất Thành, Bác rời bến cảng Nhà Rồng trên con tàu Latouche-Tréville để ra đi tìm đường cứu nước. Khi ấy, Người chỉ mới 21 tuổi, mang theo hai bàn tay trắng nhưng chứa đựng khát vọng cháy bỏng về tự do cho dân tộc. Hành trình ấy kéo dài suốt ba mươi năm, đi qua nhiều quốc gia trên thế giới như Pháp, Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc… Trong những năm tháng bôn ba ấy, Bác đã làm rất nhiều nghề để kiếm sống: phụ bếp, quét tuyết, làm báo, lao công… Cuộc sống nơi đất khách vô cùng khó khăn nhưng Người chưa bao giờ từ bỏ lí tưởng cứu nước.
Trong quá trình hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác đã tìm hiểu nhiều con đường đấu tranh khác nhau. Năm 1920, khi đọc bản “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Vladimir Lenin, Bác vô cùng xúc động vì tìm thấy con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc Việt Nam: con đường cách mạng vô sản. Từ đây, Người tích cực tham gia các hoạt động cách mạng quốc tế và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Không chỉ là một nhà cách mạng lỗi lạc, Bác còn là người có trí tuệ uyên bác. Người biết nhiều ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung… Bác viết báo, sáng tác thơ văn để truyền bá tinh thần yêu nước và thức tỉnh nhân dân. Những bài viết của Người luôn thể hiện khát vọng độc lập, tự do mãnh liệt.
Năm 1930, dưới sự chủ trì của Bác tại Hồng Kông, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức được thành lập. Đây là bước ngoặt trọng đại của lịch sử dân tộc, mở ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam. Từ đây, phong trào đấu tranh của nhân dân có sự lãnh đạo đúng đắn và ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Sau ba mươi năm xa Tổ quốc, năm 1941, Bác trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người sống và làm việc tại hang Pác Bó, Cao Bằng trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Dù cuộc sống gian khổ, Bác vẫn luôn lạc quan yêu đời. Hình ảnh Bác bên suối Lê-nin, trong căn lán nhỏ giữa núi rừng Việt Bắc đã trở thành biểu tượng đẹp của tinh thần cách mạng.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Năm 1945, khi thời cơ đến, dưới sự lãnh đạo của Bác và Đảng, nhân dân cả nước đã đứng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khoảnh khắc ấy đã đi vào lịch sử dân tộc như một dấu son chói lọi. Từ đây, nhân dân Việt Nam chính thức bước sang kỉ nguyên độc lập và tự do.
Sau Cách mạng tháng Tám, đất nước tiếp tục phải đối mặt với vô vàn khó khăn: nạn đói, nạn dốt và sự xâm lược trở lại của thực dân Pháp. Bác cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp. Trong những năm tháng ấy, Bác luôn gần gũi với nhân dân, động viên đồng bào và chiến sĩ vượt qua gian khổ. Những lời kêu gọi của Bác luôn tiếp thêm sức mạnh cho toàn dân tộc.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam vẫn còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ. Bác tiếp tục lãnh đạo nhân dân đấu tranh thống nhất đất nước. Dù tuổi cao, sức yếu, Người vẫn luôn đau đáu nỗi niềm về Miền Nam ruột thịt. Câu nói "Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi" đã thể hiện tình cảm sâu nặng của Bác đối với đồng bào Miền Nam.
Điều khiến nhân dân và bạn bè quốc tế kính phục Bác không chỉ là tài năng lãnh đạo mà còn là đạo đức lối sống giản dị của Người. Là Chủ Tịch nước nhưng Bác sống trong căn nhà sàn nhỏ đơn sơ, mặc bộ quần áo kaki bạc màu, đi đôi dép cao su giản dị. Bữa cơm của Bác cũng rất đạm bạc. Bác luôn quan tâm đến đời dống của nhân dân đặc biệt là thiếu nhi người từng nói :
"Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn biết ngủ, biết học hành là ngoan."
Không chỉ vậy, Bác còn là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Những tác phẩm như "Nhật ký trong tù", "Tuyên ngôn độc lập", "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" ... đều chứa đựng tinh thần yêu nước sâu sắc và ý chí kiên cường. Thơ văn của Bác vừa giản dị vừa giàu cảm xúc, thể hiện một tâm hồn thanh cao của một người suốt đời vì dân vì nước.
Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Hồ Chí Minh qua đời trong niềm tiếc thương vô hạn của toàn dân tộc và bạn bè quốc tế. Hàng triệu người đã bật khóc khi nghe tin Bác mất. Dù Người đã đi xa, nhưng tư tưởng, đạo đức và nhân cách của Bác vẫn mãi sống trong lòng dân tộc Việt Nam.
Cuộc đời của Bác Hồ là biểu tượng cao đẹp của lòng yêu nước, đức hi sinh và tinh thần sống vì mọi người. Bác đã hiến dâng cả cuộc đời cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Là thế hệ trẻ hôm nay, chúng ta cần học tập và noi theo tấm gương đạo đức của Bác: sống giản dị, chăm chỉ học tập, yêu thương mọi người và luôn có trách nhiệm với quê hương đất nước.
“Bác đã đi rồi sao Bác ơi!
Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời.
Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội,
Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười…”



