BÁC HỒ VỚI BẮC KẠN
Ngoài những lần đến thăm, trên đường đi công tác từ đầu năm bốn nhăm và những năm trong cuộc kháng chiến 9 năm, nhiều lần Bác Hồ có dịp đi qua đã dừng chân nghỉ tại một số địa chỉ của tỉnh. Một số lần có điều kiện thuận lợi dù đang trên đường đi, Bác Hồ đã dành thì giờ gặp mặt một số cán bộ và quần chúng xung quanh nơi nghỉ chân. Hồi tưởng tôi vẫn còn nhớ một số lần, tôi và các đồng chí cán bộ tỉnh được đưa, đón Bác trong các dịp đó.( Lần 1) Tháng 12 năm 1949 trong lần Bác đi thăm Liên Xô, Trung Quốc, tôi được trực tiếp lo việc đón tiếp. Một hôm tôi được đồng chí Trần Đăng Ninh uỷ viên Trung ương Đảng gọi lên, giao việc chuẩn bị các trạm nghỉ ở địa phận Bắc Kan. Phần đia phận Cao Bằng, đã có đồng chí Đặng Văn Cáp, ngày ấy chúng tôi quen gọi Cụ Cáp, đã nhận kế hoạch với Trung ương Đảng. Lần đi này của Bác hoàn toàn giữ bí mật, nên các trạm nghỉ không thế gặp cán bộ, quần chúng doc đường đi. Chúng tôi đến đón Bác từ thị trấn Chợ Mới lên đến bên này câu Sáu Hai, thì trời đã tối. Bác nghỉ tại một cái lán ven đường cái sát với chân núi, có khu rừng che kín mà trước đó dân công đã ở. Lán này chỉ dành cho Bác, đồng chí Trần Đăng Ninh và hai ba cán bộ đi theo, thư ký và bảo vệ Bác. Chúng tôi và các đồng chí dẫn đường, nấu nướng, ở một lán khác cách lán Bác ở khoảng hai chục mét. Trạm nghỉ chân thứ hai là một cơ sở thuộc Tỉnh đội bộ, ở bên trên là cầu phà khoảng hai cây số. Ở trạm nghỉ này, sáng hôm ra đi Bác bỏ quên cái kính để trong một túi da màu nâu. Tôi đã giữ cái kính này để đưa lại Bác khi Bác trở về . Trạm nghỉ thứ ba, là nhà đồng chí Đinh Hữu Thới bản Đông Chót xã Bằng Đức (nay là xã Bằng Vân) thuộc huyện Ngân Sơn. Lúc Bác đến nghỉ, gia đình đồng chí Thới tự nguyện chuyển sang ở nhà khác, để rộng chỗ cho khách, người nhà cũng không ai biết có Bác ở đó. Từ trạm này, sáng hôm sau một đồng chí trong Tỉnh uỷ đưa Bác và các đồng chí cùng đi, đến một trạm của Cao Bằng mà cụ Cáp đã chuẩn bị đón Bác ở đó. Lúc lên đường, Bác không căn dặn gì ngoài lời chào tạm biệt và cảm ơn. Riêng đồng chí Trần Đăng Ninh có nói nhỏ với tôi: Khi nào về sẽ báo trước để bổ trí các trạm đón Bác.
(Lần 2). Đến ngày 31 tháng 3 năm 1950 khi nhân tin báo một đồng chí Thường vụ Tỉnh uỷ được cử lên đón Bác từ Cao Bằng. Trạm nghỉ đầu cũng thu xếp ở nhà đồng chí Đinh Hữu Thới, Bằng Đức. Và ngày hôm sau, chúng tôi lại được đón và đưa Bác về nghỉ cơ quan Tỉnh đội bộ, nơi Bác đã nghỉ lúc ra đi. Đến đây tôi đưa lại Bác cái kính mà Bác chót bỏ quên dạo trước. Bác bảo "Cảm ơn chú. Thôi cho chú, Bác đã mua cái kính khác rồi". Tôi giữ cái kính này rất cẩn thận, dù tôi không dùng được vì quá nhẹ đối với mắt của tôi. Sau đó đồng chí Bí thư Huyện uỷ Chợ Đồn bị mất kính đã hỏi mượn trong khi chưa mua được kính khác. Tôi đưa mượn và dặn: phải giữ thật cẩn thận không được đánh mất hoặc làm vỡ. Sau một thời gian, đồng chí ấy bị ốm rồi chết. Và cái kính đó cũng không ai biết đồng chí đó cất đâu nữa. Còn cái bao đựng kính tôi đã tặng Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng bộ Bắc Thái để lưu tại Nhà Bảo tàng của tỉnh. Từ cơ quan Tỉnh đội bộ, tôi đưa Bác về cơ quan Trung ương. Bác và các đồng chí cùng đi đã đi chuyến ô tô đầu tiên của Bắc Kạn, trong hoàn cảnh mới được giải phóng tháng 8 năm trước. Đó là chiếc xe vận tải 5 tấn đầu tiên mà Tỉnh uỷ đã cho sửa chữa gấp và chạy thử, trước khi Bác trở về đến Thị xã Bắc Kạn. Nhưng cũng chỉ dám chạy từ Thị xã đến cầu Sáu Hai. Từ Sáu Hai về Phú Lương Bác đi ngựa, ngụy trang là một cán bộ bị thương ở đầu. Đến trạm dừng chân ở Phú Lương, tôi được Bác Hồ tặng Huy hiệu Stalin vì đã hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Trung ương và Bác giao. Đồng chí Trần Đăng Ninh cũng tặng tôi một bức ảnh chụp với đồng chí đại sứ Liên Xô ở Bắc Kinh, có bút tích của người tặng. Sau đó, ngày 1-5-1950 Bác Hồ đã gửi thư đến Ban phụ trách xe hơi Bắc Kạn (qua Tổng Liên đoàn Lao động chuyển) khen và căn dặn các điều cần thiết. "Trong thời kỳ cả nước chuẩn bị để chuyển mạnh sang tổng phản công, Bắc Kạn được cái vinh dự có xe hơi chạy đầu tiên ở Việt Bắc".
(Lần 3) Khoảng cuối hè đầu thu năm 1950, Bác Hồ đi công tác từ Cao Bằng về qua Thi xã Bắc Kạn. Còn cách thị xã khoảng bốn cây số, vào lúc gần 5 giờ chiều Bác cho một cán bộ đến Tỉnh uỷ (đang ở Huyền Tụng ven sông Cầu) nói cần gặp đại diện Tinh ủy. Tôi trao đổi với đồng chí Nguyễn Quang Hiền, uỷ viên Thường vụ Tỉnh ủy. Chúng tôi dự đoán có thể là đồng chí Văn đi qua. Tôi cử đồng chí Hiền lên gặp, để nhận chỉ thị của trên. Tôi đang chuẩn bị nội dung họp Thường vụ Tỉnh uỷ. Khi đồng chí Hiền trở về mới biết Bác Hồ đi công tác về qua. Bác bảo, tìm nơi nghỉ để sáng sớm mai Bác về Chợ Đồn. Và triệu tập Ban Chấp hành Tỉnh uỷ, các cán bộ phụ trách các ngành quân, dân, chính đến để Bác được gặp tối hôm nay. Đồng chí Hiền đưa Bác về nghỉ nơi đồng chí Hoàng Văn Phùng chủ tịch UBHCKC tỉnh, cơ quan ở Khuổi Rờm, xã Nông Thượng. Đồng chí Phùng nhận với đồng chí Hiền mọi việc ăn ở, bảo vệ Bác và các đồng chí cùng đi. Đồng chí Hiền và tôi xúc tiến việc triệu tập anh em cán bộ các ngành theo lời Bác dặn. Định giờ và nơi tập trung, trước khi đến chỗ Bác đang nghỉ. Khoảng 19h30 tất cả anh chi em có mặt hôm đó.
Với nét mặt hiền từ, vui vẻ Bác hỏi thăm sức khoẻ và công tác chúng tôi. Các cán bộ đầu ngành lần lượt báo cáo với Bác. Nghe xong, Bác nói: "Chưa cô, chú nào nói về thi đua. Vậy mục đích thi đua là gì? chú nào biết? " Đồng chí này đến đồng chí khác lần lượt nói về nhận thức của mình về thi đua. Về cuối, Bác bảo: "Các chú nói dài quá. Bác nghe không hiểu. Mục đích thi đua là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Nói như thế đồng bào mới dễ hiểu. Các chú các cô đồng ý chứ?". Tiếp đó Bác động viên và căn dặn chúng tôi "Các cô các chú đã cùng bộ đội, đồng bào đuổi được giặc Pháp ra khỏi căn cứ quan trọng này, đó là thắng lợi rất to lớn. Nhưng các chú, các cô phải nhớ rằng, càng thất bại địch càng liều mạng. Ta càng thắng lợi càng phải đề phòng gặp nhiều khó khăn. Tất cả các ngành quân, dân, chính không được chủ quan khinh địch, mà phải cảnh giác và cố gắng hơn nữa về mọi mặt. Cùng đồng bào đoàn kết chặt chẽ, đặt chương trình thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Phục vụ tốt chiến dịch sửa chữa cầu, đường, giúp bộ đội nhiều hơn nữa. Các cô các chú có làm được không? " có nhiều tiếng đáp lại đông đảo: "Chúng cháu nghe theo lời Bác đều làm được ạ!". Đêm đã khuya, chúng tôi chào Bác để trở lại cơ quan. Ai cũng biểu lộ niềm vui, phấn khởi và lưu luyến Bác. Chân đã bước mà ai cũng muốn ngoảnh lại nhìn Bác. Hầu hết anh chị em cán bộ có mặt hôm đó được vinh dự lần đầu tiên gặp Bác Hồ muôn vàn kính mến, mà mỗi người đều có mong ước từ lâu, (Lần 4)- Tháng 3 năm 1951 (không còn nhớ ngày) Bác Hồ từ Cao Bằng về qua Bắc Kạn. Được thông báo việc này, Tỉnh uỷ đã cho xã Cao Minh dựng gấp một trạm nghỉ chân đón Bác ở Bản Vùa (Hùa), dưới Nà Phặc 3 cây số. Trạm nghỉ chân được dựng trên khoảng đất cao ráo, một nhà sàn nhỏ hai gian dưới tán cây to. Nơi này còn cách đỉnh Đèo Giàng dăm sáu cây số, đảm bảo an toàn. Một phòng chúng tôi dành riêng Bác nghỉ. Còn một phòng để các đồng chí phục vụ Bác và tôi cùng ở. Chúng tôi đón Bác đến từ chiều hôm trước. Sáng hôm sau Bác day sớm đọc sách và làm việc đúng như nề nếp của Người. Trưa và chiều Bác cùng ăn cơm với chúng tôi. Ngồi vào mâm, Bác tuơi cười, miệng nói tay chia từng món ăn cho anh em cùng đi và tôi "Các chú cố ăn hết, đừng để lại".
Chiều tối hôm thứ ba, Bác sang Trạm giao tế bên Thạch Ngoã, xã Thượng Minh (Chợ Rã) thăm các chuyên gia Trung Quốc. Trong bữa ăn sáng ở Giao tế tôi vẫn nhớ mãi. Bác Hồ lấy thìa xúc các món ngon nhất, thịt gà xào miến, nấm hương vào bát của tôi. "Chú yếu, chú phải cố ăn nhiều mới khoẻ để có sức làm việc". Xúc động nghẹn ngào, tôi chỉ còn nói được một câu: "cháu cảm ơn Bác". (Lần 5) Vào khoảng cuối xuân sang hè năm 1951, trên đường đi công tác, Bác đến thăm một đội thanh niên xung phong sửa chữa cầu, đường. Lán của đội thanh niên đang ở ven đường số 3 khoảng giữa Phủ Thông với Thị xã Bắc Kạn. Khi Bác đến tất cả thanh niên trai, gái đều hô to "Bác Hồ muôn năm! Bác Hồ muôn năm!..." Bác giơ tay ra hiệu, mọi người đều im lặng dần. Bác hỏi thăm sức khoẻ và nói chuyện. Bác động viên thanh niên xung phong chịu đựng khó khăn gian khổ để đảm bảo thường xuyên cầu, đường thông suốt. Tiếp đó, Bác nói về tình hình kháng chiến, kiến quốc và đặc biệt việc đổi tên cùng với sứ mệnh, vai trò của Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội II vừa mới kết thúc. Cuối cùng Bác tặng Đội TNXP 4 câu thơ mà cả trong và ngoài Đoàn thanh niên Việt Nam hầu như ai cũng thuộc lòng: Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên đọc xong, Bác hỏi: "Các cháu có làm được không?" Tất cả đều đồng thanh: " Thưa Bác, chúng cháu quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác ạ!" (Lần 6)- Đêm 27 tháng 3 năm 1951, tôi đưa Bác Hồ về nghỉ ở Khuổi Cuồng (Xuất Hoá, Bạch Thông). Theo lời Bác, tôi cùng các đồng chí trong Tỉnh uỷ, UBHCKC triệu tập cuộc họp, đúng ra là một cuộc mít tinh đúng thành phần và thời gian, địa điểm. Sáng sớm 28-3-1951 Bác gặp Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh. Trước hết Bác giải thích xung quanh việc đổi tên gọi Đảng Lao động Việt Nam. Đặc biệt Bác nói về tư cách đạo đức của người cán bộ cách mạng để ngăn ngừa một số cán bộ đã hoạt động cách mạng từ sớm, ít chịu học tập, tu dưỡng lại có tư tưởng công thần. Bác chỉ rõ: "Người cán bộ cũng như cái máy. Máy dùng lâu mà không tu sửa thì sẽ bị mòn dần và không còn dùng được nữa. Người cán bộ tuy tham gia cách mạng từ lâu, nhưng không chịu học tập tu dưỡng thì cũng sẽ bị đào thải, vì không có đủ tài, đức để thực hiện đúng đắn các chủ trương đường lối của Đảng và Chính phủ".
Đến mười giờ ngày 28 tháng 3 năm 1951, Bác đến cuộc mít tinh, để gặp hơn 600 anh chị em cán bộ và nhân dân xung quanh khu vực thị xã đến dự cuộc mít tinh đông đúc và trọng thể này. Địa điểm mít tính được tổ chức ở Khuổi Cuồng.



