BÁC HỒ VỚI BÀI HỌC VỀ TINH THẦN TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách. Để xây dựng một chính quyền cách mạng vững mạnh và phát triển đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc phát hiện, thu hút và trọng dụng nhân tài. Bác quan niệm: "Nhân tài như cây cổ thụ trong rừng, phải biết tìm kiếm, chăm sóc và đặt đúng chỗ thì cây mới phát huy được hết giá trị".
Trong quan điểm dùng người của Bác, không có sự phân biệt đối xử về nguồn gốc xuất thân, tôn giáo, hay quá khứ từng làm việc cho chính quyền cũ. Chỉ cần là người có tài, có đức, lòng tha thiết muốn phụng sự Tổ quốc và nhân dân thì Bác đều trân trọng, mời ra gánh vác việc nước.
Một ví dụ điển hình là trường cụ Huỳnh Thúc Kháng — một sĩ phu yêu nước nổi tiếng, từng là Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ thời thuộc Pháp. Mặc dù cụ Huỳnh không thuộc tổ chức Đảng Cộng sản, nhưng nhận thấy tư tưởng yêu nước thương dân và uy tín lớn lao của Cụ trong nhân dân, Bác Hồ đã trực tiếp viết thư chân thành mời cụ Huỳnh ra Hà Nội tham gia Chính phủ. Bác đã tiến cử Cụ giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ và khi Bác sang Pháp năm 1946, Bác đã tin tưởng giao Cụ làm Quyền Chủ tịch nước với lời dặn nổi tiếng: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến".
Không chỉ thu hút các nhân sĩ yêu nước trong nước, Bác Hồ còn gieo niềm tin và cảm hóa được hàng loạt trí thức Việt Nam xuất sắc đang sống và làm việc tại nước ngoài rời bỏ cuộc sống nhung lụa để trở về phụng sự Tổ quốc gian khổ.
Trong chuyến công tác tại Pháp năm 1946, Bác đã gặp gỡ và thuyết phục những kỹ sư, nhà khoa học tầm cỡ thế giới như Trần Đại Nghĩa (Phạm Quang Lễ), Lê Văn Thiêm, Tôn Thất Tùng... Kỹ sư Phạm Quang Lễ lúc bấy giờ đang có một sự nghiệp lừng lẫy tại Pháp với mức lương rất cao. Nhưng cảm động trước tấm lòng chân thành, khát vọng tự do cho dân tộc của Bác Hồ, ông đã chấp nhận bỏ lại tất cả để theo Bác về nước.
Về đến chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ giao cho kỹ sư Phạm Quang Lễ nhiệm vụ thành lập Cục Quân giới để tự chế tạo vũ khí cho quân đội. Bác trực tiếp đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa với mong muốn ông sẽ đem tài năng ra làm việc nghĩa lớn cho dân tộc. Trong điều kiện thiếu thốn vô vàn về máy móc, nguyên vật liệu, Giáo sư Trần Đại Nghĩa cùng các cộng sự đã chế tạo thành công súng và đạn Bazooka, súng SKZ — những thứ vũ khí huyền thoại đã tiêu diệt nhiều xe tăng, lô lô bốt của địch, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Một câu chuyện khác thể hiện phong cách trọng dụng nhân tài của Bác là cách Bác lắng nghe và tôn trọng ý kiến của các chuyên gia, trí thức. Bác không bao giờ áp đặt quan điểm cá nhân hay lấy tư cách Lãnh tụ để chỉ đạo các vấn đề chuyên môn sâu. Mỗi khi bàn về y tế, giáo dục hay khoa học, Bác luôn mời các chuyên gia giỏi nhất đến để thảo luận, chăm chú lắng nghe và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để họ làm việc.
Bác thường dặn dò các cán bộ làm công tác tổ chức: — Dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, gỗ nhỏ, thẳng hay cong đều có thể dùng vào đúng việc. Cán bộ quản lý phải biết nhìn thấy mặt mạnh của từng người để giao việc cho đúng, đừng vì một khuyết điểm nhỏ mà bỏ qua một tài năng lớn của đất nước.
Bài học về trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là kim chỉ nam cho sự nghiệp phát triển đất nước hôm nay. Việc tạo dựng môi trường minh bạch, tôn trọng tri thức và thu hút hiền tài không phân biệt giàu nghèo hay nguồn gốc chính là chìa khóa vàng để Việt Nam vươn lên thành một quốc gia hùng cường trong kỷ nguyên mới.
CÂU CHUYỆN THỨ 14: BÁC HỒ VỚI BÀI HỌC VỀ CHỐNG BỆNH QUAN LIÊU, XA DÂN
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi bệnh quan liêu, xa rời quần chúng là một trong những "căn bệnh nguy hiểm nhất" trong bộ máy chính quyền. Bác cảnh báo rằng quan liêu sẽ dẫn đến việc cán bộ coi thường nhân dân, làm việc trên giấy tờ, xa rời thực tế và cuối cùng sẽ làm suy yếu mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân.
Năm 1952, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ nhận được phản ánh của bà con nông dân ở một số xã về việc cán bộ địa phương thu thuế nông nghiệp chưa hợp lý, làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Ngay lập tức, Bác quyết định tự mình đi kiểm tra thực tế mà không báo trước cho chính quyền tỉnh hay huyện.
Bác cùng một đồng chí bảo vệ cải trang thành những người nông dân đi làm đồng, bước vào một ngôi làng miền núi. Bác ghé thăm từng ngôi nhà, ngồi bên bếp lửa trò chuyện trực tiếp với đồng bào. Khi hỏi về công tác thu thuế, một cụ già trong làng than thở với Bác: — Cán bộ huyện chỉ ngồi ở văn phòng rồi phân bổ chỉ tiêu xuống xã. Mùa màng thất thu vì sâu bệnh nhưng cán bộ không chịu xuống đồng kiểm tra, vẫn bắt dân nộp đủ theo con số trên giấy. Dân chúng tôi cực khổ lắm!
Nghe xong, Bác lặng người đi vì đau xót. Bác liền triệu tập khẩn cấp một cuộc họp cán bộ lãnh đạo tỉnh và huyện đó ngay tại ủy bàn xã.
Tại cuộc họp, đồng chí Chủ tịch huyện đứng lên báo cáo rất trôi chảy về các con số, chỉ tiêu thành tích đã đạt được trên giấy tờ. Sau khi đồng chí báo cáo xong, Bác Hồ ôn tồn hỏi: — Chú báo cáo thành tích rất hay. Vậy Bác hỏi chú: Tháng này chú đã xuống tận đồng ruộng của dân mấy lần? Chú có biết năng suất lúa thực tế của từng thôn trong xã này giảm bao nhiêu phần trăm vì đợt rầy phá hoại vừa rồi không?
Đồng chí Chủ tịch huyện ngập ngừng, đỏ mặt không trả lời được. Bác nghiêm nét mặt, chỉ tay vào các bản báo cáo xếp chồng trên bàn: — Các chú ngồi trong văn phòng thoáng mát, nhìn vào những con số tô hồng trên giấy rồi ra quyết định thì làm sao biết được nỗi khổ của nhân dân? Đó chính là bệnh quan liêu, xa dân! Quyền lực của các chú là do nhân dân giao cho để phục vụ nhân dân, chứ không phải để làm "quan cách mạng" hách dịch với dân.
Bác yêu cầu chính quyền địa phương phải lập tức điều chỉnh lại mức thuế, xuống tận từng hộ gia đình bị thiên tai để hỗ trợ gạo giống và miễn giảm thuế kịp thời. Chuyến đi kiểm tra đột xuất của Bác không chỉ giải quyết nỗi oan khuất cho người dân mà còn là một bài học đắt giá thức tỉnh toàn bộ đội ngũ cán bộ địa phương về tác phong làm việc.
Một câu chuyện khác diễn ra khi hòa bình lập lại ở miền Bắc. Mỗi khi đi công tác xuống địa phương, Bác Hồ luôn dặn trước cán bộ Văn phòng: — Không được báo trước cho địa phương tổ chức đón tiếp rình rang. Nếu họ biết trước, họ sẽ cho quét dọn đường xá, sơn sửa nhà cửa, tập trung quần chúng đứng vẫy hoa chào đón... Như thế vừa tốn kém tiền bạc của dân, vừa tốn thời gian lao động, mà Bác lại không nhìn thấy được cái thật của đời sống nhân dân.
Rất nhiều lần, xe của Bác ghé ngang qua một nông trường hay một trường học ngoài kế hoạch. Bác tự mình bước vào thăm khu nhà ăn, nhà vệ sinh, giếng nước của công nhân, học sinh trước khi vào làm việc với ban lãnh đạo. Nhờ tác phong sâu sát đó, Bác luôn nắm bắt chính xác những tâm tư, nguyện vọng thực tế nhất của nhân dân để chỉ đạo Đảng và Chính phủ đưa ra những chính sách sát hợp với cuộc sống.
Bác Hồ từng dặn: "Muốn không quan liêu thì cán bộ phải 3 cùng với dân: Cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Phải coi công việc của dân như công việc của nhà mình thì mới làm tốt được".
Bài học về chống bệnh quan liêu của Bác Hồ vẫn giữ nguyên giá trị thời sự cho công cuộc xây dựng bộ máy hành chính nhà nước hiện đại hôm nay. Việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hướng về cơ sở và lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả công việc chính là sự tiếp nối thiết thực nhất tư tưởng của Người.



