Bác Hồ với Đoàn Nghi lễ Quân đội phần 2
Bác Hồ với Đoàn Nghi lễ Quân đội phần 2 qua lời kể của Đại tá NGUYỄN XUÂN HÀ, Nguyên Chính ủy Đoàn Nghi lễ Quân đội.
Có một kỷ niệm còn nhớ mãi, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhằm tuyên truyền, động viên bộ đội, các đơn vị có phong trào viết báo tường. Đơn vị nào có nội dung tốt, trình bày đẹp thì được thưởng. Lần ấy tờ Báo tường “Tuổi xanh” của Đoàn quân nhạc được chấm giải nhất và được gửi về Cục Chính trị. Trong tờ Báo tường ấy có vẽ một tranh biếm họa ghi lại một nhạc sinh quân tên là “Thộn” đang thổi kèn, nước mắt ròng ròng, bên cạnh là một nhạc binh lớn tuổi giơ tay tát. Bức vẽ phê phán hành động quân phiệt. Chuyện chỉ có vậy nhưng không biết thế nào tờ Báo “Tuổi xanh” lại được Bác Hồ xem, và sau đó Bác gửi Thư nhắc nhở: “Gửi các cháu nhạc sinh quân; Báo Tuổi xanh của các cháu, số tết bài viết gọn gàng, lời lẽ thật thà, hoạt bát, vui vẻ. Các cháu cứ gắng sức thì sẽ thành tờ Báo tốt hơn nữa. Chớ viết dài dòng, chớ dùng những chữ không phổ thông...Viết rồi phải đọc lại kỹ mấy lần. Phê bình cho nhau. Nhờ các anh lớn phê bình hộ. Đó là cách viết báo các cháu nên nhớ. Thấy Thộn bị tạt tai, Bác rất lấy làm kỳ quái. Nếu việc ấy thật có thì phải sửa đổi ngay. Vì tạt tai không phải là một cách dậy dỗ. Mong các người anh chú ý. Chúc các cháu mạnh khỏe và mong các cháu siêng học, siêng làm.
Bác hôn các cháu
Tháng 2/1948
Bác Hồ”.
Được nghe từng lời trong thư Bác, ai cũng thấy thấm thía. Khuyết điểm này, là vi phạm bản chất truyền thống quân đội cách mạng, không thể tha thứ được. Thật là bài học nhớ đời, cả về cách làm việc cụ thể, phù hợp đối tượng, cả về mối quan hệ đồng đội, cán –binh. Từ đó về sau các thế hệ quân nhạc luôn truyền cho nhau lời dạy của Bác và khuyết điểm ấy không tái phạm nữa. Tờ báo Tuổi xanh có bước tiến rõ rệt về chất lượng.
Năm 1965, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào thời kỳ mới, khó khăn, ác liệt hơn. Đế quốc Mỹ leo thang, dùng máy bay đánh phá miền Bắc. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, một số quân nhạc viết đơn tình nguyện xin ra mặt trận chiến đấu, với suy nghĩ giản dị “Âm thanh cũng là mặt trận chiến đấu không thể thiếu được, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhưng trong không khí nước sôi lửa bỏng này, xin được ra trận, cầm súng trực tiếp tiêu diệt quân thù. Yên giặc rồi xin được trở lại cầm kèn như xưa”. 50 anh nhạc công, hầu hết là chiến sỹ chống Pháp, được tuyển chọn, bổ sung cho Bộ đội Trường Sơn 559, Bộ đội đặc công và bổ sung sang các đội văn công Quân giải phóng ở miền Nam. Mùa thu năm 1965, Đoàn được giao nhiệm vụ phục vụ cho lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bình thường, theo kế hoạch chỉ cần 2 đội phục vụ, phân công nhạc trưởng Mai Huyên chỉ huy. Nhưng trên yêu cầu tất cả Đoàn đều luyện tập và trước buổi lễ mấy ngày, một cán bộ trên Phủ Chủ tịch xuống gặp Đoàn trưởng nói “Bác bảo lần này chú Liên phải chỉ huy dàn nhạc trong buổi lễ”. Đoàn trưởng cảm động không cầm được nước mắt. Bác luôn nhớ tới anh, một quản kèn khố xanh được cách mạng, được Đảng, đặc biệt được Bác chăm nom, giáo dục, tin tưởng, giao cho một nhiệm vụ quan trọng. Đinh Ngọc Liên coi đây là niềm hạnh phúc lớn lao, là vô giá, trong một đời người chắc gì ai đã có được. Hoạt động trong chế độ thời chiến, theo quyết định của Ban Tổ chức buổi lễ chỉ gói gọn trong 40 phút, để bảo đảm an toàn và để Bác còn về nghỉ, sức khỏe của Bác lúc này không được tốt. Khi các nghi lễ, nội dung buổi lễ xong, để kết thức, nhạc trưởng Đinh Ngọc Liên chỉ huy dàn nhạch tấu bài “Giải phóng miền Nam” và bắt nhịp để cả hội trường cùng hát, theo kịch bản đã xác định, hát bốn lần, nhưng lần này chỉ hát có một lần, để khỏi kéo dài. Thấy vậy Bác đứng dậy vui vẻ bảo: “Hát còn bé lắm, chú Liên điều khiển hát lại. Theo Bác đồng bào miền Nam đang chiến đấu ác liệt như thế, bài này ai cũng phải thuộc để nay mai khi giải phóng miền Nam còn vào hát ca ngợi đồng bào, chiến sỹ mình chứ! Ai thuộc mới được vào, không thuộc thì ở lại. Còn thì giờ thì cố học đi nào, hát lại lần nữa!”. Nhạc trưởng lại bắt nhịp. Lần này cả hội trường, cả các đoàn ngoại giao dự buổi lễ, cùng đồng thanh hát to bài Giải phóng miền Nam, với đủ các thứ tiếng. Trong lúc mọi người đang hát, Bác vẫy nhạc trưởng lên bắt tay và tặng bó hoa. Buổi lễ theo điều khiển của Bác kéo dài thêm 20 phút, ngoài ý đồ của Ban Tổ chức. Ra về ai cũng cảm động, thương Bác, lúc nào Bác cũng nhớ tới đồng bào miền Nam. Miền Nam luôn trong trái tim của Bác, bao nhiêu năm nay chưa được trở lại, miền Nam vẫn đang dưới ánh đô hộ của đế quốc.
Tháng 10 năm 1968, Đoàn được Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ “Bác của ta đang mệt nặng, quân nhạc phải lo chuẩn bị. Phòng Bác có đi xa khỏi phải đột ngột, như nhà có bố mẹ già, chuẩn bị chu đáo càng sớm, càng tốt. Các đồng chí về nghiên cứu các phương án chuẩn bị, lãnh đạo đơn vị tập luyện tốt. Tin này tuyệt đối giữ bí mật”.
Cho đến tháng 7 năm 1969, Đội 1 quân nhạc vinh dự được gặp Bác trong hội nghị cán bộ cấp cao toàn quân vẫn phong thái nhanh nhẹn, ung dung, nhưng nhìn Bác, anh em biết Bác lúc ấy đã yếu nhiều. Bác phải cố gắng lắm để giữ cho phong thái được bình thường. Thương Bác, rồi trộm nghĩ ôi Bác Hồ vĩ đại yêu quý ngàn lần của chúng cháu, chẳng lẽ đây là lần cuối cùng chúng cháu được gặp Bác sao! Chẳng lẽ đây là lần chót được nhìn thấy Bác sao! Và đúng là lần cuối thật. Tối ngày 01/9/1945, Đội 2 quân nhạc phục vụ lễ Quốc khánh 2/9. Buổi lễ được tiến hành như thường lệ, nhưng trên Chủ tịch đoàn vắng bóng Bác. Chẳng lẽ Bác đã từ biệt chúng cháu thật sao? Anh em đứng trước lễ đài tấu nhạc mà lòng đau như cắt, nhiều người không cầm được nước mắt. Đúng như linh cảm, mấy ngày sau Đài tiếng nói Việt Nam phát đi bản thông cáo đặc biệt, Bác đã vĩnh biệt chúng ta về thế giới người hiền. Khi ấy đơn vị vẫn đang sơ tán tại xã Đại Kim, Thanh Trì, được lệnh về nội Thành chuẩn bị làm nhiệm vụ, phục vụ lễ tang cho Bác. Khi anh em ra xe, trời vẫn mưa không ngớt, một cụ ông người làng Bằng A vừa khóc vừa nói anh em “Bác mất rồi trời cũng thương khóc, các chú được về đưa tiễn Bác, mong các cháu thay mặt bà con ở làng này tổ chức cho tốt để thỏa vong linh Bác”, nghe cụ nói mà mọi người đều khóc theo.
Suốt mấy ngày tập luyện, 120 quân nhạc được biên chế thành 3 đội thay phiên nhau túc trực suốt ngày đêm bên linh cữu Bác, ai cũng quyết tâm làm tròn nhiệm vụ lịch sử này. Trước khi bắt đầu lễ viếng đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đến nói với anh em: “lúc còn sống, Bác rất quan tâm tới Quân nhạc, phục vụ tang lễ, quân nhạc phải phục vụ cho tốt, nếu để sơ suất là có lỗi với Bác. Ban Tổ chức để quân nhạc viếng Bác trước, rồi làm nhiệm vụ.” Trong tuần tang Bác, được tận mắt chứng kiến những nỗi đau, và tiếc thương vô hạn của toàn dân, của bạn bè, đồng chí khắp năm châu, bốn biển đối với Bác, các chiến sỹ quân nhạc càng thấy công lao to lớn và tình cảm vĩ đại của Bác. Hình ảnh Bác đã đi sâu vào trái tim, khối óc của mọi người, mọi dân tộc ở trong nước và cả trên thế giới.
Ngày mùng 9 tháng 9 năm 1969 toàn Đảng, toàn dân cùng bạn bè tiễn đưa Người về cõi vĩnh hằng với lễ truy điệu trọng thể tại quảng trường Ba Đình. Nhạc Trưởng Đinh Ngọc Liên người quản kèn của đội kèn Khố xanh 24 năm trước được Đảng, Bác Hồ tin tưởng, giáo dục, quan tâm, trở thành sỹ quan của Quân đội nhân dân Việt Nam, người mà trong lễ Quốc khánh 1965 được Bác nhắn “Hôm nay chú Liên chỉ huy dàn nhạc” được vinh dự là người chỉ huy dàn nhạc trong lễ tang Bác. Thương Bác vô cùng, anh em đều hứa với nhau, phải làm thật tốt nhiệm vụ để đền đáp công ơn của Bác. Kính thưa bác: Những lời Bác dạy: “Trống năng rèn, kèn năng thổi”, các cháu phải ra sức đào tạo thêm nhiều người vào, quân đội ta ngày càng trưởng thành, càng cần nhiều quân nhạc”; chúng cháu nguyện suốt đời ghi nhớ công ơn dạy dỗ của Bác, các thế hệ Bộ đội quân nhạc sẽ tiếp nối nhau thực hiện tốt nhiệm vụ Bác giao. 80 năm đã trôi qua, 24 năm được Bác trực tiếp quan tâm, giáo dục, rèn luyện, một vinh dự lớn, mãi là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ, chiến sỹ quân nhạc. Thực hiện lời dạy của Bác, các thế hệ cán bộ, chiến sỹ luôn đoàn kết khắc phục khó khăn, phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng LLVTND, xứng đáng là đơn vị làm nhiệm vụ nghi lễ của Đảng, Quân đội, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tô thắm truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng, của dân tộc Anh hùng.



