Bác Hường - nhân chứng địa chỉ đỏ

Bác Hường – nhân chứng địa chỉ đỏ[1]
Bà Phạm Thị Hường vừa là cựu chiến binh vừa là người có công giúp đỡ cách mạng, sinh ngày 25/4/1946, sống tại Tổ dân phố Ninh Thủy 1, phường Đông Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, là một nhân chứng sống gắn với câu chuyện về những người chiến sĩ tàu không số C235. Tuy năm nay đã 80 tuổi nhưng đoạn ký ức ám ảnh của bà, từng là cán bộ Trạm xá căn cứ Hòn Hèo về nỗi gian khổ cuộc chiến không hề phai nhòa theo thời gian. Đó cũng là một phần ký ức quý giá về con đường Hồ Chí Minh trên biển – con đường huyền thoại đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Câu chuyện lịch sử của con tàu này bắt đầu vào ngày 27-2-1968, Tàu C235 do Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh chỉ huy được lệnh xuất phát tiếp tế đạn dược cho chiến trường Khu 5. Đây là con tàu có vận tốc khá lớn (khoảng hơn 30 hải lý/giờ), chở 14 tấn vũ khí và 21 cán bộ, chiến sĩ. Tàu C235 không chỉ là một con tàu vận chuyển vũ khí mà còn là biểu tượng của tinh thần quả cảm, ý chí kiên cường và lòng trung thành của những người lính Hải quân. Trong hành trình thực hiện nhiệm vụ, các chiến sĩ trên tàu đã phải đối mặt với vô vàn hiểm nguy. Nhưng trước thử thách khắc nghiệt, họ vẫn giữ vững ý chí, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Mỗi khi nhớ lại, giọng bồi hồi xúc động, bà kể: “Đầu tháng 3-1968, chúng tôi thấy trên biển có pháo sáng bắn lên, rồi nhiều tiếng súng nổ. Gần sáng có một tiếng nổ rất lớn. Biết tàu ta vào đã gặp địch, chúng tôi được lệnh tỏa đi tìm anh em thủy thủ. Lúc ấy trực thăng địch đổ quân bao vây vùng Hòn Hèo. Chúng đông lắm, có cả lính Đại Hàn. Ngoài biển thì tàu chiến, trên núi thì bộ binh, đạn vãi ra như mưa. Mải chạy càn, tôi bị lạc đơn vị, mấy ngày lang thang trong rừng. Đói cũng có nhưng cái khát còn đáng sợ hơn, phải hứng từng giọt nước mưa nơi khe đá rỉ xuống. Một đêm tôi thiếp đi ngay bên con suối cạn. Lúc tỉnh dậy trời tờ mờ sáng, thấy lính Đại Hàn gần đến mức nhìn rõ cả nốt tàn nhang trên mặt một tên trong số đó. Vỏ đồ hộp chúng ném ra, rơi ngay bên cạnh. Còn nước còn tát. Tôi rón rén lùi xa khu vực nguy hiểm. Ba ngày sau lần về chỗ đóng quân cũ của đơn vị. Lán trại đã bị đốt trụi. Rất lâu sau có tiếng động lạ, lắng nghe một lúc thì nhận ra người cùng đơn vị, chúng tôi ôm nhau nghẹn lời. Địch rút, chúng tôi lần xuống bến, đoán có thủy thủ còn kẹt ở đâu đó, đơn vị phân công chốt giữ trên từng đoạn đường mòn. Quả nhiên mấy hôm sau tìm được 5 anh thủy thủ còn sống nhưng kiệt sức vì rời tàu đã hơn 10 ngày.” Khi du kích đưa các thủy thủ về trạm xá, các anh chỉ còn da bọc xương, hai hốc mắt trũng sâu vì nhịn đói, nhịn khát nhiều ngày. Toàn bộ lương thực, thực phẩm đều đã bị địch đốt sạch, tất cả phải sống nhờ vào khoai mài. Ban đầu khoai mài còn nhiều, chúng tôi luộc cho các anh ăn, về sau đào được ít quá nên phải chuyển sang nấu cháo”.
Các anh kể cho chúng tôi nghe về quãng thời gian sinh tử trên biển. Sau 2 ngày đêm hành quân trên hải phận quốc tế, khoảng 18 giờ ngày 29-2, tàu chuyển hướng vào vùng biển Nha Trang liền bị máy bay trinh sát của địch nhòm ngó, quần lượn. Nhận định tàu ta đã bị lộ nên thuyền trưởng cho anh em ngụy trang cẩn thận, chờ đêm tối chuyển hướng vào bờ, chuẩn bị thả hàng, sẵn sàng chiến đấu. Đến 20 giờ, các tàu tuần dương của địch được báo động, chuẩn bị siết chặt vòng vây hòng bắt sống tàu ta. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh cho phát tín hiệu gọi bến. Sau mấy lần chớp đèn ra hiệu nhưng bến không trả lời, thuyền trưởng lệnh cho tàu tắt hết đèn, áp sát vào bờ để thả vũ khí (đã đóng trong bao ni lông). Khoảng 2 giờ 30 ngày 1-3, kho hàng trên tàu được chuyển gần xong, từ ngoài khơi tàu địch lầm lũi tiến vào, 3 tàu lớn vòng ngoài, 4 tàu nhỏ vòng trong tạo thành thế bao vây khép kín. Trên không, địch huy động máy bay lên thẳng vũ trang yểm trợ, thả pháo sáng rực cả bầu trời. Chúng bắt đầu cho nổ súng xối xả để thị uy. Trong tình thế hiểm nghèo, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh vẫn bình tĩnh cho tàu tiến vào gần bờ hơn nữa. Cuộc chiến giữa ta và địch diễn ra ngày càng quyết liệt, chỉ khoảng 20 phút mà nhiều đồng chí của ta đã bị thương và hy sinh, Thuyền trưởng Phan Vinh cũng bị thương ở đầu. Khi biết không thể thoát khỏi vòng vây của địch, anh hội ý với Chính trị viên Nguyễn Tương và quyết định cho nổ tàu để không lọt vào tay địch. Khi tàu cách bờ khoảng 100m, Thuyền trưởng Phan Vinh cho tất cả anh em bơi vào bờ trước, còn anh và thợ máy Ngô Văn Thứ ở lại để đấu nối kíp nổ và trực tiếp điểm hỏa khối thuốc nổ hủy tàu. Khi anh em vào gần tới bờ thì một cột lửa bùng lên kèm theo tiếng nổ dữ dội chấn động cả vùng biển, hất tung một nửa thân Tàu C235 lên triền núi gần đó. Trong cuộc chiến không cân sức này, 14/21 cán bộ, chiến sĩ Tàu C235 đã anh dũng hy sinh. Những ngày sau đó, quân địch tiếp tục đổ quân lùng sục khắp núi Hòn Hèo để truy bắt các thành viên Tàu C235. Cán bộ, chiến sĩ còn sống đã trải qua những ngày rất gian khổ bởi thiếu lương thực và nước uống, trong khi địch vẫn truy lùng gắt gao. Các anh phải ăn ốc sên sống, liếm nước đọng trên lá rừng. Đến khi sức cùng, lực kiệt, gần như tắt hết hy vọng thì gặp được du kích ở bến.
Nơi chúng tôi không có mùng, đêm đến muỗi đốt chi chít, đập không xuể. Thấy thế bà Hường lượm dù pháo sáng khâu cho mỗi người một cái bao để chui vào ngủ. Hôm chia tay, anh Lâm Quang Tuyến, một thành viên Tàu C235, nói: “Bọn anh xin cái bao này để làm kỷ niệm không bao giờ quên”. Những người ở lại rưng rưng nước mắt, bịn rịn chia tay các thủy thủ. Thế là sau một thời gian được điều trị và phục hồi sức khỏe, 5 thành viên Tàu không số đã vượt núi, băng qua đại ngàn Trường Sơn trở lại miền Bắc tiếp tục nhận nhiệm vụ mới. Đến năm 1978, 10 năm sau ngày chia tay, anh Tuyến bấy giờ công tác tại Nha Trang, đã trở về Ninh Phước tìm gặp những đồng đội xưa. Ôn chuyện quá khứ, ai cũng kể vanh vách, không quên một chi tiết nào. Rồi các anh thủy thủ khác: Mai, Phong, Thật, An trong hành trình về chiến trường xưa, đã tìm bằng được vợ chồng ông Cường bà Hường để nhớ mãi những năm tháng không thể nào quên ấy. Tháng 10-2011, bà Hường vinh dự được mời ra Hải Phòng gặp mặt các CCB tàu không số nhân kỷ niệm 50 năm thành lập tuyến đường huyền thoại - Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Tưởng nhớ sự chiến đấu và anh dũng hy sinh của các cán bộ, chiến sĩ Tàu C235, năm 1993, Lữ đoàn 125 Hải quân đã cùng chính quyền địa phương xây dựng Bia tưởng niệm 14 cán bộ, chiến sĩ tại mũi Bà Nam, xã Ninh Vân, thị xã Ninh Hòa. Ngày 26-4-2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành quyết định xếp hạng Địa điểm lưu niệm Tàu C235 (đường Hồ Chí Minh trên biển) là Di tích lịch sử Quốc gia. CCB Phạm Thị Hường sau này từng làm Bí thư chi bộ Xí nghiệp muối và chồng bà là Bí thư Huyện ủy Ninh Hòa đã gom góp ủng hộ gần trăm triệu đồng xây thêm nhà thờ để nắng mưa vẫn nhang khói được cho các liệt sĩ. Mỗi năm, những trường học từ cấp 2 đến cấp 3 hay sinh viên đại học từ khắp mọi nơi ở Khánh Hòa; những cán bộ, cựu chiến binh và người dân trên khắp mọi miền Tổ Quốc cũng đến tưởng niệm với khẩu hiệu “Hành trình tìm về địa chỉ đỏ” và thăm hỏi nhân chứng để sống lại hành trình gian khổ, giây phút thiêng liêng ấy, giây phút mà những cậu trai tuổi đời còn trẻ, có gia đình và tương lai hứa hẹn nhưng lại chọn quyết tâm bảo vệ mục tiêu là hoàn thành cuộc giải phóng miền Nam; cũng là giây phút chứng kiến con tàu nổ trên biển như xé nát ruột gan của đồng đội, xé nát cả niềm hy vọng ngày đoàn tụ. Tôi hiện nay là sinh viên Trường đại học mở và cũng là cựu học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, Khánh Hòa đã may mắn được đi đến nơi linh thiêng này vào năm lớp 10 cùng cả lớp và học sinh trường THPT Trần Cao Vân để dự lễ tưởng niệm, tham gia học tập, thi đấu Rung chuông vàng cùng nhau, trong đó có các anh Bí thư chi đoàn TDP và Bí thư Đoàn Phường nơi mình sinh hoạt.
Cảm ơn bà Phạm Thị Hường, những nhân chứng như bà chính là cầu nối để thế hệ trẻ hôm nay hiểu rõ hơn về lịch sử, về những hy sinh thầm lặng và về trách nhiệm tiếp nối truyền thống cách mạng. Nhờ có ký ức vô giá của bà mà chúng tôi tự hào hơn về quê hương, về lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển. Trận hải chiến trên biển Hòn Hèo của Tàu C235 là một trong những trang sử chói lọi nhất. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và 13 đồng đội đã nằm lại tại xã đảo dưới chân núi Hòn Hèo, nhưng bản hùng ca về tinh thần yêu nước, tinh thần chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của các chiến sĩ tàu không số vẫn còn vang vọng mãi trong lòng các thế hệ hôm qua, hôm nay và mai sau. Đối với bà, những câu chuyện về tàu C235 không đơn thuần là những sự kiện lịch sử. Đó còn là ký ức về tình đồng đội, về những con người đã cùng nhau vượt qua gian khó, về những người đã mãi mãi nằm lại vì sự nghiệp chung của dân tộc. Dù thời gian có trôi qua, những đóng góp và sự hy sinh ấy vẫn luôn được các thế hệ trân trọng, ghi nhớ. Đặc biệt, đối với đoàn viên, thanh thiếu nhi phường Đông Ninh Hòa, câu chuyện về bà Phạm Thị Hường và các chiến sĩ tàu C235 là dịp để giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng biết ơn đối với các thế hệ cha anh. Từ đó, mỗi bạn trẻ thêm ý thức trong học tập, rèn luyện, tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện và đóng góp xây dựng quê hương.
Tri ân bà Phạm Thị Hường – người nhân chứng sống của lịch sử. Đời đời ghi nhớ công ơn thuyền trưởng Phan Văn Vinh cùng 14 cán bộ, chiến sĩ tàu C235 đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
[1] Bài viết có chép nguyên văn lời kể chuyện của nhân chứng từ Chuyện về Tàu không số C235



