BÁC LÀ ÁNH MẶT TRỜI

Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên chúng tôi, mỗi người có một tấm lòng riêng đối với Bác Hồ kính yêu.
Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên sống dưới chế độ thực dân Pháp như cây lau, cây lách hai bên bờ sông, triền miên bị dòng nước vùi dập. Chưa nói đến những nỗi khổ khác, chỉ tính riêng trên mảnh đất cao nguyên Đắk Lắk, có bao nhiêu đồn điền, bao nhiêu cây cao su, cà phê, chè là có bấy nhiêu người ngã xuống. Còn ở Kon Tum, Plâycu? Con đường 14, 19, 21 kéo dài bao nhiêu thước đất cũng có bấy nhiêu người nằm xuống.
Nhưng dòng nước lũ không thể kéo dài mãi được. Dòng nước càng chảy xiết càng mau khô cạn. Cây lau, cây lách lại đứng lên nở hoa trắng phau.

Một buổi sáng mùa thu năm 1945, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, từ vùng đất bằng đông dân đến vùng rẻo cao; từ thị xã Kon Tum, Plâycu, Buôn Ma Thuột đến Lâm Đồng; từ người Xơ-đăng, Ba-na, người Gia-rai, Ê-đê, Mnông đến anh em người Châu Mạ, Châu-ro anh hùng đã nhất tề đứng dậy đập tan xiềng xích. Bầu trời thu trong xanh. Cờ đỏ sao vàng càng tươi thắm tung bay rợp trời. Dưới bóng cờ đỏ sao vàng, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đổ về những nơi buôn làng lớn giành chính quyền và ăn thề cùng nhau giữ chính quyền của mình. Người Tây Nguyên đứng lên như bóng lau lách sau một trận nước lũ. Những mối hiềm thù trước đây tự nó mất đi. Nhân dân các dân tộc Tây Nguyên bắt đầu một cuộc sống mới.
Giữa năm 1946, người dân Tây Nguyên rất cảm động khi được nghe thư của Bác Hồ và nhớ mãi lời dạy bảo của Bác trong lá thư ấy. Bác viết rằng:
“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau.
Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục để chia rẽ chúng ta”.
Lời lẽ của Bác thật giản dị nhưng chứa đựng tình cảm thật lớn lao. Lời dạy của Bác sáng như ánh mặt trời. Trong suốt chín năm đánh đuổi giặc Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng bào Tây Nguyên luôn lấy lời dạy bảo của Bác để soi đường. Mọi người đều đồng lòng, đoàn kết nhau lại, thương yêu đùm bọc nhau. Người buôn này với người buôn kia, dân tộc này với dân tộc kia đều là con cháu Bác Hồ.
Tôi còn nhớ câu hát của người Ê-đê mùa thu năm ấy: “Ở buôn làng cây ngã đã có núi tựa lưng, rễ khô đã có nguồn nước mát. Khắp Bắc - Trung - Nam không có ai như Bác Hồ, cây một gốc đã thành rừng, mây bụi thành vườn, mặt trời thua sáng, dòng nước kém trong, núi cao, rừng xanh phải ghen với Người”.
Người Tây Nguyên chưa được tận mắt nhìn Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng hình ảnh Bác đã đi sâu vào lòng đồng bào Tây Nguyên, như gió xuân luồn vào rừng già thấm mát và bền vững. Ai cũng thấy mình là người thân ruột thịt của Bác Hồ.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Nhưng rồi, sống trong cảnh ấy tính ra chưa được một mùa lúa thì bọn thực dân Pháp như đàn hổ, báo ùn ùn kéo đến chiếm lấy núi rừng Tây Nguyên. Bọn thực dân Pháp tưởng rằng những người đóng khố mình trần sẽ mau chóng bị chúng khuất phục. Nhưng chúng không nhớ, ngót một trăm năm ở Tây Nguyên đã có bao nhiêu tên xâm lược bỏ mình trên mảnh đất này. Dọc biên giới Việt - Lào, Việt - Campuchia đều có những cửa ải giữ nước, những mồ mả của bọn xâm lược chôn vùi ở đó.
Nối tiếp truyền thống bất khuất của ông cha, các dân tộc Tây Nguyên đứng dậy chiến đấu đã có núi tựa lưng, có sông nước ngăn che. Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Người Ê-đê chúng tôi đã gọi Bác với một niềm tin yêu trìu mến và kính phục - Ava Hồ.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ, nhân dân Tây Nguyên đón nhận bằng mọi giá. Buôn không, vườn trống để lại cho giặc. Đồng bào vào rừng làm làng kháng chiến. Khắp buôn làng vang lên bài hát:
“Kiến bầy phá vỡ thân cây Mối đàn tha đất mà xây nên cồn
Toàn dân đoàn kết một lòng Bác Hồ kêu gọi ta cùng đánh Tây”.
Nhiều trai tráng khỏe mạnh đã từ giã nương rẫy, nhiều cô gái tự bỏ khung cửi ra đi cùng người Kinh, với các dân tộc anh em, gia nhập bộ đội Cụ Hồ, làm cán bộ Việt Minh.
Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên làm theo lời dạy của Bác: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, lớp lớp những con em ưu tú đã xuất hiện. Người Ê-đê vẫn còn nhớ hai người con trai miền Đông cao nguyên Đắk Lắk là Y Khu, Y Bơ Hin, tấm gương đầu bất khuất. Hai anh được lệnh của đơn vị mang tên anh hùng N’Trang Lơng đi làm nhiệm vụ trên đường 21. Không may, hai anh bị thực dân Pháp bắt. Bị tra tấn dã man, nhưng Y Khu và Y Bơ Hin một mực không khai nửa lời. Bọn chúng đã chôn đứng hai anh. Đất lấp dần từ đầu gối, tới lưng rồi đến cổ... Hai anh vẫn không khai. Và cuối cùng chỉ có tiếng hô: “Việt Nam độc lập muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!” mãi mãi vang dội cả núi rừng Tây Nguyên.
Hay như tấm gương tiêu biểu của anh Y Dưm, người con ưu tú của dân tộc Gia-rai, trước khi bị thực dân Pháp bắn chết, hai tay anh nâng ảnh Bác Hồ đặt lên ngực của mình. Kẻ thù buộc phải thốt lên “Gan thật!”. Anh hùng A Vưu, người con bất khuất của dân tộc Ba-na, bị kẻ địch khoét cả hai mắt cũng không hé một nửa lời cho chúng. Chúng hỏi anh: “Mày còn theo ông Hồ không?”. Anh dõng dạc đáp: “Con tim tao là của Bác Hồ. Rừng cây còn lá, Vưu này còn là của Cụ Hồ”.
Hình ảnh Bác và những lời dạy bảo của Người ngày càng thấm vào trong lòng nhân dân các dân tộc, chiếu sáng khắp mọi mái nhà sàn của đồng bào Tây Nguyên. Đối với bản thân tôi, hình ảnh Bác Hồ lúc nào cũng in sâu ở trong lòng. Mỗi khi tôi gặp khó khăn thì luôn có Bác dẫn đường chỉ lối. Khi tôi còn bị giam cầm trong nhà lao Di Linh (Lâm Đồng) của thực dân Pháp, không phải riêng tôi mà tất cả anh em bộ đội Cụ Hồ, cán bộ Việt Minh ở trong nhà lao này, hằng ngày vẫn tìm cách hỏi thăm tin tức về sức khỏe của Bác. Một hôm, có tin Bác cùng bộ đội, dân công đi chiến dịch Cao - Bắc - Lạng khiến anh em trong tù phấn khởi. Bởi chúng tôi tin chắc chắn rằng chiến dịch này sẽ thắng lớn. Trong nhà tù nổi lên một đợt đấu tranh mới mạnh mẽ hơn: đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù, đòi thả một số đồng bào bị chúng bắt vô cớ trở về buôn làng của họ. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 61 ngày sinh của Bác, một số anh em có biết ít nhiều về thân thế và sự nghiệp của Bác đã kể lại cho chúng tôi nghe. Lúc đó, tôi bị địch tra tấn, đánh đập, cùm xiềng lâu ngày, đau đớn, không đi lại được. Tuy cơ thể bị thương nặng và chưa thạo tiếng phổ thông nhưng tôi vẫn ráng đi nghe. Những mẩu chuyện về Bác, những ý, những lời của Bác như một liều thuốc tiên, tôi thấy như khỏe ra.
Tôi nhớ mãi câu chuyện khi Bác ở trong nhà tù của bọn Tưởng Giới Thạch, bị liệt, Bác vẫn tập đi và tinh thần lúc nào cũng thoải mái, luôn luôn hướng về Tổ quốc thân yêu. Những mẩu chuyện đó rất thiết thực đối với anh em chúng tôi. Riêng bản thân tôi noi gương Bác, cố gắng kiên trì luyện tập và dần dần tôi đã đi lại được...
Ybi Alêô (dân tộc Ê-đê) kể, YHing ghi, in trong Miền Nam trong lòng Bác, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1975; Bác Hồ với đồng bào dân tộc,
Nxb. Thông tấn, Hà Nội, 2007.




