Bác Nguyễn Văn Trung – Cả tuổi thanh xuân gửi lại chiến trường, trọn đời vì độc lập dân tộc (1)

Bác Nguyễn Văn Trung – Cả tuổi thanh xuân gửi lại chiến trường, trọn đời vì độc lập dân tộc
"Có những người đã đi qua chiến tranh với cả tuổi xuân rực rỡ, để thế hệ hôm nay được lớn lên trong hòa bình. Mỗi câu chuyện của họ là một trang sử sống, nhắc nhở chúng ta về giá trị thiêng liêng của độc lập, tự do."
Trong hành trình tìm về những nhân chứng lịch sử với chủ đề "Câu chuyện thời hoa lửa", vinh dự được đến thăm bác Nguyễn Văn Trung, cựu chiến binh, bệnh binh đang sinh sống tại thôn 5 Quỳnh Bảng, xã Quỳnh Anh. Bước qua cánh cổng ngôi nhà bình dị, đón tiếp chúng em là nụ cười hiền hậu của người lính năm xưa. Mái tóc đã bạc theo năm tháng, nhưng ánh mắt của bác vẫn ánh lên niềm tự hào khi nhắc về những tháng năm chiến đấu vì Tổ quốc.
Sau lời thăm hỏi ân cần, bác chậm rãi mở chiếc hộp cũ lưu giữ những kỷ vật chiến tranh. Những tấm huân chương đã ngả màu thời gian, những bức ảnh cũ và ký ức của hơn nửa thế kỷ trước như sống dậy. Bác bắt đầu kể cho chúng em nghe về quãng đời thanh xuân không thể nào quên.
Ngày 11 tháng 4 năm 1968, khi vừa tròn 18 tuổi, bác tình nguyện lên đường nhập ngũ. Sau 30 ngày huấn luyện tại Đoàn 22 ở Như Xuân, Thanh Hóa, bác cùng hàng nghìn thanh niên hành quân vào chiến trường miền Nam. Bác được biên chế vào Đại đội 6, Tiểu đoàn 27, Tỉnh đội Quảng Trị, làm nhiệm vụ bám dân, bám đất với khẩu hiệu:
"Một tấc không đi, một ly không rời."
Đó không chỉ là khẩu hiệu mà còn là lời thề của những người lính quyết tâm giữ từng tấc đất quê hương. Nhiệm vụ của bác và đồng đội là vừa chiến đấu, vừa bảo vệ nhân dân, xây dựng cơ sở cách mạng ngay trong vùng địch kiểm soát.
Chiến trường Quảng Trị những năm ấy là nơi khốc liệt nhất cả nước. Bom đạn ngày đêm cày xới, máy bay trinh sát quần thảo liên tục trên bầu trời. Bộ đội phải lấy hầm làm nhà, lấy rừng làm nơi trú ẩn, ban ngày ẩn mình trong địa đạo, ban đêm mới dám cơ động làm nhiệm vụ.
Bác kể rằng, để giữ bí mật, bộ đội phải thực hiện nghiêm nguyên tắc:
"Đi không dấu, nấu không khói, nói không thành tiếng."
Những bếp Hoàng Cầm được đào sâu dưới lòng đất để khói tỏa ra từ từ, tránh sự phát hiện của máy bay địch. Chỉ cần một làn khói nhỏ hay một ánh lửa lóe lên, lập tức pháo từ các căn cứ, tàu chiến ngoài biển và máy bay sẽ dội bom xuống như trút.
Không chỉ đối mặt với bom đạn, người lính còn phải chiến đấu với đói rét và bệnh tật. Có những ngày chỉ có cơm độn với rau rừng, có khi nhiều ngày liền không đủ lương thực. Thiếu thuốc men, sốt rét rừng và nhiều căn bệnh khác đã cướp đi sinh mạng của không ít chiến sĩ.
Từ năm 1968 đến năm 1972, bác cùng các đơn vị chủ lực như Sư đoàn 304, 312, 320, 325 phối hợp với quân và dân Quảng Trị mở nhiều đợt tiến công lớn. Những chiến thắng liên tiếp đã góp phần giải phóng tỉnh Quảng Trị vào ngày 1 tháng 5 năm 1972, đánh dấu một mốc son quan trọng của cuộc kháng chiến.
Nhưng niềm vui ấy chưa kéo dài bao lâu thì những trận phản kích dữ dội của địch bắt đầu.
Bác nhớ nhất khoảng tháng 6 năm 1972, khi đơn vị được điều động về Hải Lăng. Bom B-52 rải thảm suốt ngày đêm, pháo hạm ngoài biển liên tục bắn phá. Nhà cửa tan hoang, làng mạc chỉ còn là những đống gạch vụn.
Trong một lần hành quân vào quận lỵ Hải Lăng, bác phát hiện một chiến sĩ bị thương nằm trong lô cốt của địch. Không ai biết anh thuộc đơn vị nào. Giữa làn đạn dày đặc, người chiến sĩ ấy vẫn cố gắng bám trụ, còn đồng đội thì tìm mọi cách cứu chữa. Hình ảnh ấy đến nay vẫn in sâu trong ký ức của bác.
Những tháng tiếp theo là chuỗi ngày chiến đấu ác liệt ở Diên Sanh, Hải Lăng, Cửa Việt và Thành Cổ Quảng Trị.
Bác kể, chiều hôm trước đơn vị tiến vào làng Diên Sanh, những mái nhà vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng chỉ sau một đêm, bom đạn đã biến cả ngôi làng thành bình địa. Hố bom chằng chịt, cây cối đổ ngổn ngang, không còn nhận ra dấu vết của cuộc sống.
Trong một trận đánh giáp lá cà với quân địch, bác trực tiếp băng bó cho một người lính bị bom đạn thiêu cháy gần như toàn thân. Người chiến sĩ ấy đau đớn kêu gọi đồng đội trong tuyệt vọng. Sau này bác mới biết anh bị địch bắt làm tù binh và được trao trả sau Hiệp định Paris. Dù không biết tên tuổi, nhưng ký ức về người đồng đội ấy vẫn luôn day dứt trong lòng bác suốt hơn nửa thế kỷ.
Cuối tháng 1 năm 1973, khi Hiệp định Paris được ký kết, chiến trường Quảng Trị vẫn chưa thực sự yên tiếng súng. Đêm 27 tháng 1 năm 1973, bầu trời Quảng Trị sáng rực bởi hàng nghìn quả pháo sáng. Ban đầu, đơn vị tưởng địch nhảy dù nên lập tức triển khai chiến đấu. Sau đó mới biết đó là pháo sáng được bắn lên để phục vụ việc cắm cờ xác định vùng kiểm soát theo Hiệp định.
Ít ngày sau, bác trực tiếp tham gia trận Cửa Việt – trận đánh cuối cùng và cũng là một trong những trận chiến quyết liệt nhất ở Quảng Trị trước khi tiếng súng thực sự ngừng vang.
Năm 1974, bác tiếp tục được điều động vào Sư đoàn 324, hành quân dọc đường Trường Sơn vào A Lưới, Thừa Thiên, rồi đến Kon Tum, tham gia đánh căn cứ Đắk Pét. Sau đó, đơn vị tiếp tục hành quân ra Quảng Nam, chuẩn bị cho chiến dịch Thượng Đức – một trong những chiến dịch ác liệt kéo dài từ tháng 7 năm 1974 đến trước mùa xuân đại thắng năm 1975.
Những tháng năm chiến đấu đã lấy đi biết bao đồng đội của bác. Nhưng điều còn đọng lại trong ký ức người lính không chỉ là bom đạn, mà còn là tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, là ý chí quyết chiến quyết thắng và niềm tin son sắt vào ngày đất nước thống nhất.
Lắng nghe câu chuyện của bác Nguyễn Văn Trung, chúng em càng hiểu rằng hòa bình hôm nay không phải tự nhiên mà có. Đó là thành quả được đánh đổi bằng tuổi thanh xuân, bằng máu xương và cả cuộc đời của biết bao thế hệ cha anh.
Rời ngôi nhà của bác, trong lòng mỗi chúng em đều dâng lên niềm xúc động và biết ơn sâu sắc. Chúng em nhận ra rằng, trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay không chỉ là ghi nhớ lịch sử mà còn phải học tập thật tốt, rèn luyện đạo đức, sống có lý tưởng và góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.
Xin kính chúc bác Nguyễn Văn Trung luôn mạnh khỏe để tiếp tục truyền ngọn lửa yêu nước cho các thế hệ mai sau. Chúng cháu xin hứa sẽ luôn ghi nhớ những hy sinh cao cả của các bác, sống xứng đáng với truyền thống anh hùng của quê hương Quỳnh Anh và của dân tộc Việt Nam.



