Bài viết

BÁC NGUYỄN XUÂN ĐỈNH, PHƯỜNG ÁI QUỐC, TP. HẢI PHÒNG

Hải Phòng09/01/2026Ban Biên tập tổng hợp6 lượt xem0 lượt chia sẻ

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

BÁC NGUYỄN XUÂN ĐỈNH, PHƯỜNG ÁI QUỐC, TP. HẢI PHÒNG

Bác Nguyễn Xuân Đỉnh, sinh năm 1948, quê ở Vũ Thượng, Ái Quốc. Năm 1972, Bác 24 tuổi, Bác là Tiểu đội trưởng Tiểu đội Hỏa Lực, Đại đội 3, tiểu đoàn 7, trung đoàn 102B- năm 1972 Trung đoàn 102B được Bộ Quốc phòng điều động tăng cường Sư đoàn 968 tại Nam Lào– thuộc Bộ đội Trường Sơn. Trung đoàn 102B— được điều sang Nam Lào, nhận nhiệm vụ giữ chốt Sanavan, một vị trí chiến lược trên tuyến đường 13, khu vực Nam Lào. Con đường ấy là mạch máu quan trọng đường Tây Trường Sơn chi viện cho miền Nam, và chốt Sanavan là lớp phòng thủ then chốt, quan trọng bậc nhất.

Khi nhận được lệnh Trung đoàn vào Nam Lào, đã chọn Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn chọn Đại đội 3, Đại đội chọn Trung đội 1 và Tiểu đội Hỏa lực cùng Đại đội trưởng Đặng Bân và Đại đội phó ra chốt để làm nhiệm vụ giữ chốt Sanavan, trong lòng bác vừa háo hức vừa lo âu — vì biết đất bạn Lào, rừng núi, bom đạn không chừa một ai.

Nhận nhiệm vụ và chuẩn bị

Chốt Sanavan nằm trên một sườn đồi đất đỏ, sát đường 13, nơi mà mỗi lúc trời tối là máy bay Mỹ lại quần thảo, thả pháo sáng trắng để tìm địa điểm chốt rải bom xuống. Ban ngày Bộ binh của địch và Hỏa lực yểm trợ, tìm cách tấn công lên để chiếm chốt, cứ như thế mỗi ngày ít nhất là từ 3 đến 4 lần địch tìm mọi cách tấn công lên để chiếm chốt. Bác Đỉnh được lệnh của Đại đội trưởng Đặng Bân giao nhiệm vụ dùng ống nhòm quan sát địch từ xa chốt. Khi phát hiện thấy địch, Bác đã cho hỏa lực, cối 60, và súng B40-41 bắn tiêu diệt quân địch kịp thời. Sau khi bị bắn quân địch bị chết và thương vong, bọn chúng phải bỏ chạy rút quân. Bác Đỉnh cùng tiểu đội Hỏa lực cùng Trung đội 1, Bộ binh truy quét đuổi địch tiêu diệt cách chốt khoảng 1km thì lại rút về chốt, trên đường rút địch hai máy bay T28 đuổi bắn đại diện và bỏ bom ngăn chặn quân ta, Bác cùng đồng đội mưu trí lợi dụng địa hình ở đất Nam Lào, có nhiều ụ mối to như đống rơm con để tránh bom đạn rút về chốt an toàn lực lượng, đêm đến chúng tôi sửa sang lại hầm và củng cố lại công sự, Đại đội trưởng Đặng Bân cùng Đại đội phó yêu cầu kiểm tra quân số bị hy sinh và thương vong, để điều động, quân số phía sau nên chốt cho đủ quân số, tiểu đội Hỏa lực cùng Trung đội 1, tất cả anh em họp bàn thảo luận, phải giữ chốt bằng được, đây là giữ được tuyến đường Tây Trường Sơn chi viện cho miền Nam.

Trận 2h sáng 28/01/1973, Bác cùng mũi quân của Tiểu đoàn phó tổ chức xuất kích truy quét địch. Đến 7h30 sáng, một số người của mũi quân bị thương vong, Tiểu đoàn phó tổ chức họp anh em lãnh đạo, chỉ thị cho Bác dẫn quân rút về chốt, yêu cầu Bác dẫn đường đi trước, đi đến điểm Bãi Tráng, địch xả đạn về phía Bác, bác bị thương tại chân và đầu, địch tưởng Bác đã chết cho ngừng bắn, khi Bác nhìn lại thì đồng đội ra rút quân theo hướng an toàn. Bác giữ được bình tình, bắn xả hết 1 băng đạn điểm xạ 2 viên 1 về phía địch, sau đó Bác rút về đường 13 di chuyển về chốt, địch lại tiếp tục xả đạn xối xả về phía Bác, một mảnh đạn đã xuyên vào mi mắt trái, chảy máu rất nhiều. Khi địch ngừng bắn, bác đến một cây khộc to, thay băng đạn và lấy băng y tế cá nhân ra băng vào vết thương tại mi trái. Sau đó, cố gắng rút về chốt một cách nhanh nhất dù đã bị thương. Về gần đường 13, hai bên đường, địch cho thả bom cháy để đốt cây cối và xả đạn tiếp, bác nằm rạp để địch tưởng đã hi sinh và ngừng bắn. Bác nằm trườn về chốt, về đến chốt, lực lượng quân ta thương vong và hi sinh rất nhiều, trong đó có cả Chỉ huy trưởng Đại đội 3 Đặng Bân của chốt cũng bị thương, bác bị thương nhẹ vẫn xin ở lại chiến đấu. Nhưng Chỉ huy phó Đại đội 3 lệnh yêu cầu đồng chí Đỉnh đã bị thương, phải đi viện không được ở lại. Bác cùng các thương binh di chuyển về bệnh viện Tiền phương cách khoảng gần 12h tiếng đi bộ từ 8h sáng đến 19h50 tối. Bác được điều trị trong 1 tháng, vết thương chưa khỏi hẳn nhưng Bác vẫn xin về đơn vị để chiến đấu. Về đến đơn vị, Bác được biết tin sau khi bác đi được 4 ngày sau, địch đã cho xả bom đạn dữ dội vào chốt, cả chốt hi sinh còn duy nhất một đồng chí Chấn, chiến sĩ của Tiểu đội. Lực lượng quân đội ta phối hợp dùng Pháo tầm xa 120, 82 và các hỏa lực, bộ binh tập trung đánh lại địch, chiếm lại chốt. Sau Hiệp định Paris được ký, đến tháng 4/1973, địch mới rút quân, đơn vị của Bác rút về chốt khác

Trưa 06/4/1973, địch phát hiện được địa điểm chốt mới, quân địch dội bom B52 dữ dội từ khoảng 11h đến 12h. Hầm của Tiểu đội bác bị bom xới lên một tảng đá nhẵn, to như con voi phục, rất may mắn tảng đá cách cửa hầm 80 phân không nếu bịt kín cửa hầm thì Tiểu đội không biết sẽ ra sao. Sau khi địch ngừng thả bom, Bác và đồng đội xúc đất, thu dọn, hỗ trợ thương binh và các đồng chí đã hy sinh đưa về nơi chôn cất. Bác cùng đồng đội đã chôn họ trong một ngôi mộ tập thể. Mọi người mệt rã rời nhưng không than vãn — vì nhiệm vụ vẫn chờ phía trước. Chiến dịch kết thúc thắng lợi: chốt được giữ vững, đường Trường Sơn được thông suốt

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ký ức ở Sanavan vẫn sống trong bác— tiếng bom, hố bom, cả khoảnh khắc lao ra giữa khói và lửa để giữ chốt. Bác kể lại câu chuyện này để ghi nhớ: mỗi hố bom đã được san, mỗi mét đường đã được vá, mỗi đồng đội đã nằm lại — đều là phần của lịch sử thật sự.

Nếu hôm nay bạn có dịp qua Nam Lào, tới Sanavan, nhớ dừng lại một phút để tưởng nhớ những người đã bảo vệ chốt Sanavan, tuyến đường Tây Trường Sơn— nơi mà các bác và đồng đội, những người lính trẻ một thời, đã đứng giữa nguy hiểm và quyết giữ mạch máu chi viện cho miền Nam./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn