Cựu chiến binh

bác Pặng lại chọn cho mình lối rẽ hướng về phía dải biên cương

bác Pặng lại chọn cho mình lối rẽ hướng về phía dải biên cương

Phú Thọ29/06/2026ĐOÀN XÃ QUY ĐỨC (ĐOÀN XÃ QUY ĐỨC)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiều muộn ở xóm Lọng, sương núi bắt đầu phủ một lớp mỏng nhẹ như khói lên những mái nhà sàn. Tôi khẽ đẩy chiếc cổng tre, bước vào khoảng sân nhỏ nhà bác Lường Văn Pặng. Người đàn ông dáng đậm, quai hàm bạnh mang đậm nét phong trần của người con núi rừng dân tộc Tày đang cẩn thận lau chùi chiếc xe máy cũ. Thấy tôi – đứa cháu làm Phó Bí thư Đoàn xã, bác cười xòa, vẫy tay: "Vào đây uống nước, khéo lại sắp mưa rừng rồi đấy!".

Ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc, nhìn chiếc áo đại đoàn màu xanh thẫm được treo trang trọng trên vách nhà, tôi biết mình sắp được chạm vào một mảnh ký ức rực lửa của một thời thanh xuân kiêu hùng.

Năm 1977, nương ngô xóm Lọng năm ấy chứng kiến một chàng trai tuổi mười tám mười đôi mọc chí lớn. Chàng trai Lường Văn Pặng, khi đó vừa học xong lớp 7/12 hệ phổ thông cũ, đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Giữa cái tuổi thanh tân phơi phới, khi người ta bắt đầu nghĩ về một mái ấm nhỏ bên bếp lửa hồng, bác Pặng lại chọn cho mình lối rẽ hướng về phía dải biên cương.

Những năm tháng ấy, đất nước vừa bước qua một cuộc chiến lại đứng trước những dông bão mới. Bác Pặng được biên chế vào đơn vị mang phiên hiệu đặc biệt: 6BE42-R327QK1 (thuộc Quân khu 1). Đó là những ngày tháng "nếm mật nằm kề" đúng nghĩa của người lính chốt. Ai đã từng qua vùng Đông Bắc những năm cuối thập niên 70 mới hiểu hết cái lạnh thấu xương của đá núi, những cơn mưa rừng rả rích làm loét da chân, và cả những đêm thức trắng sương muối ôm cây súng nép mình trong chiến hào.

Học vấn 7/12 ngày đó được coi là cái chữ khá trong bản. Bác Pặng đem cái chữ ấy áp dụng vào việc đọc bản đồ, nắm bắt kỹ thuật tác chiến. Sự thông minh, gan dạ của chàng trai Tày đã giúp bác rèn luyện vượt bậc, từ một chiến sĩ mới vươn lên gánh vác trách nhiệm chỉ huy tiểu đội với quân hàm Trung sĩ (H2). Bốn năm đằng đẵng nếm trải mùi súng đạn, bác cùng đồng đội giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc cho đến ngày cầm quyết định xuất ngũ vào năm 1981.

Chiến trường khép lại, người Trung sĩ năm nào trở về với xóm Lọng, cất chiếc quân hàm H2 vào một góc trang trọng trong rương nhỏ, rồi lặng lẽ xỏ chân vào đôi dép cao su bắt đầu cuộc mưu sinh mới. Bác Pặng quan niệm: "Lúc chiến đấu mình không lùi bước, thì lúc làm kinh tế mình cũng không được đầu hàng".

Năm 1998, khi Hội Cựu chiến binh xã Quy Đức mở rộng vòng tay đón những người lính trở về, bác Pặng là một trong những hội viên tiên phong. Mấy mươi năm qua, người ta không còn thấy một Trung sĩ Lường Văn Pặng thét ra lửa trên trận địa, mà chỉ thấy một người cựu binh già, một người công dân mẫu mực, một chỗ dựa tinh thần vững chắc của bà con xóm Lọng.

Bác đi đầu trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bảo ban con cháu giữ gìn nền nếp, tránh xa các tệ nạn xã hội. Mỗi lần xóm có việc, từ làm đường nông thôn mới đến hòa giải những xích mích nhỏ to, chiếc bóng lưng hơi còng của bác lại xuất hiện. Bác không dùng những lý luận đao to búa lớn, bác thuyết phục dân bản bằng sự chân thành của một người con của núi rừng, bằng cái uy của một người lính từng đi qua lằn ranh sinh tử.

Đêm xóm Lọng buông xuống nhanh chóng. Tiếng ếch nhái râm ran ngoài đồng ruộng hòa cùng tiếng cười giòn giã của mấy đứa cháu bác Pặng đang học bài ở gian trong.

Nhìn ánh mắt ngập tràn hạnh phúc của người cựu binh già bên ánh đèn dầu, tôi chợt nhận ra: Bác chính là một bông "Hoa thời lửa" đích thực. Bông hoa ấy không cần rực rỡ phô trương, nó lặn sâu vào lòng đất mẹ xóm Lọng, trải qua mưa bom bão đạn để rồi hôm nay âm thầm tỏa hương, giữ cho mạch sống bình yên của bản làng mãi mãi xanh tươi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
bác Pặng lại chọn cho mình lối rẽ hướng về phía dải biên cương | Câu chuyện thời hoa lửa