Người có công giúp đỡ cách mạng

Bác sĩ Huỳnh Thị Xuân – Giữ mạch sống y tế trong ngày Buôn Ma Thuột giải phóng

Là một trong những nữ bác sĩ đầu tiên của Ban Dân y tỉnh Đắk Lắk, Huỳnh Thị Xuân trực tiếp tham gia công tác hậu cần y tế cho Chiến dịch Tây Nguyên. Đầu năm 1975, bà được điều động tham gia Đoàn tiếp quản y tế Buôn Ma Thuột, vừa đóng giả dân nắm tình hình các cơ sở y tế địch, vừa chuẩn bị lực lượng, thuốc men để sau ngày 10/3/1975 kịp thời cứu chữa thương bệnh binh và nhân dân. Bà cũng là người tham gia vận động, thuyết phục các bác sĩ của chế độ cũ quay về phục vụ nhân dân ngay sau giải phóng

Đắk Lắk05/02/2026Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên (Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những ngày đầu năm 1975, khi trong rừng sâu, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đang hoàn tất những tính toán quân sự cuối cùng cho trận Buôn Ma Thuột, thì ở một “mặt trận” khác, các bác sĩ, y sĩ của Ban Dân y tỉnh Đắk Lắk cũng bước vào một cuộc chuẩn bị âm thầm mà sống còn: chuẩn bị cho “trận đánh cứu người” sau khi đô thị được giải phóng.

Trong số đó có bác sĩ Huỳnh Thị Xuân, lúc ấy mới hơn 30 tuổi. Trước đó, bà công tác tại bệnh xá khu căn cứ H4, quen với việc cứu chữa thương binh trong điều kiện rừng núi thiếu thốn. Đầu năm 1975, bà được điều động về Ban Dân y tỉnh, trực tiếp tham gia Đoàn tiếp quản y tế Buôn Ma Thuột. Nhiệm vụ được giao rất rõ: nắm chắc lực lượng, cơ sở, thuốc men của hệ thống y tế địch trong thị xã; đồng thời chuẩn bị nhân lực, trang thiết bị của ta để khi thành phố giải phóng là có thể lập tức đứng ra đảm nhận việc khám chữa bệnh cho dân.

Địa điểm được chọn làm “sở chỉ huy” của Đoàn tiếp quản y tế là nhà hộ sinh số 18 Hoàng Diệu – sau này là Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS của tỉnh. Từ đây, các y, bác sĩ của Ban Dân y mỗi ngày phải “đóng giả dân”, lẫn vào dòng người đi chợ, đi làm, đi thăm bệnh… len lỏi qua các bệnh viện, phòng mạch của chính quyền Sài Gòn để quan sát, hỏi han. Họ ghi lại trong trí nhớ – và trong những mảnh giấy nhỏ – số bác sĩ, y tá, quy mô từng cơ sở, kho thuốc, thiết bị. Tất cả phải làm trong im lặng, không được để lộ thân phận, vì chỉ cần bị nghi ngờ là “Việt cộng” thì không chỉ bản thân mà cả mạng lưới cơ sở đều có thể bị đe dọa.

Với lợi thế là người phụ nữ nhỏ nhắn, bình dị, bác sĩ Xuân thường xuyên đến các bệnh viện như người nhà vào thăm bệnh, hay một bệnh nhân đến “xin khám”. Qua những lần “trò chuyện như không”, bà dần nắm được những thông tin quan trọng về lực lượng y tế địch: bác sĩ, y tá là người ở đâu, tính cách ra sao, liệu có ai có tư tưởng tiến bộ, sẵn sàng phục vụ nhân dân sau ngày giải phóng.​

Trong số đó, hai cái tên đặc biệt được bà và đồng đội “để mắt”: bác sĩ Nguyễn Văn Lạng (Trưởng bệnh viện lớn nhất của lực lượng quân y ngụy tại Buôn Ma Thuột lúc bấy giờ) và bác sĩ Nguyễn Kim Sơn (Trưởng Ty Y tế Đắk Lắk kiêm Giám đốc nhà thương Buôn Ma Thuột). Sau vài lần tiếp cận, trò chuyện khéo léo, bà và các đồng chí trong Đoàn tiếp quản dần nắm được tâm tư của họ: dù làm việc trong bộ máy cũ, nhưng cả hai đều mong muốn được làm chuyên môn, ít nhiều bức xúc trước những bất công, tham nhũng trong chế độ Sài Gòn.

Từ những gợi mở ban đầu, các cuộc gặp gỡ sâu hơn được tổ chức. Trong vai những người quen cũ, những người “nhờ khám bệnh”, cán bộ Ban Dân y trao đổi với hai bác sĩ về viễn cảnh sau chiến tranh: nếu cách mạng thành công, y tế sẽ được tổ chức lại ra sao, nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân lớn đến thế nào. Bác sĩ Xuân kể lại, chính thái độ cởi mở, thẳng thắn, và cam kết không trả thù, sử dụng chuyên môn của đội ngũ y tế cũ cho lợi ích nhân dân đã thuyết phục được bác sĩ Sơn và bác sĩ Lạng.

Ngày 10/3/1975, khi pháo ta nổ, đặc công, xe tăng, bộ binh ập vào Buôn Ma Thuột, Đoàn tiếp quản y tế đã sẵn sàng. Sau khi quân ta làm chủ các mục tiêu quan trọng, lực lượng địa phương phát động quần chúng nổi dậy, truy quét tàn quân, diệt ác phá kềm. Thương binh từ các mũi tấn công, dân thường bị đạn lạc, bị thương trong những ngày giao tranh được đưa về các điểm y tế tạm thời. Bác sĩ Huỳnh Thị Xuân và đồng đội lập tức phối hợp với bác sĩ Sơn, bác sĩ Lạng – những người nay đã công khai đứng về phía cách mạng – tổ chức lại bệnh viện, phân buồng, sắp giường, lập kíp trực, kiểm kê và phân phối thuốc men.

Trong bối cảnh hỗn độn sau giải phóng, quyết định không phân biệt, không trả thù đội ngũ y tế cũ của Ủy ban Quân quản và Ban Dân y là vô cùng sáng suốt. Chính điều đó – cùng với nỗ lực vận động của những người như bác sĩ Xuân – đã giữ được mạch sống y tế cho một thành phố vừa trải qua một trận đánh lớn. Người dân Buôn Ma Thuột, chỉ vài ngày trước còn sống trong tiếng đạn bom, giờ có thể đưa con, đưa mẹ, đưa người thân đến bệnh viện, gặp những bác sĩ vẫn là gương mặt cũ, nhưng nay làm việc dưới lá cờ mới, trong một chế độ mới.​

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, khi đã là nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh, nhìn lại chặng đường từ cô bác sĩ Ban Dân y đến người cán bộ lãnh đạo, Huỳnh Thị Xuân vẫn nhớ nhất những ngày đầu tháng 3 năm 1975: những bước chân đi “thăm bệnh” mà thực ra là trinh sát, những đêm thức trắng chuẩn bị giường bệnh, thuốc men, và giờ phút bà nhìn thấy những bác sĩ từng làm việc cho chế độ cũ khoác áo blouse, cúi xuống chăm sóc thương bệnh binh cách mạng, nhân dân, dưới lá cờ đỏ sao vàng.

Đó là “thời hoa lửa” của một nữ bác sĩ – người đã nỗ lực hết mình để cứu chữa thương bệnh binh, để nối liền nhịp tim của một thành phố từ chiến tranh sang hòa bình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Bác sĩ Huỳnh Thị Xuân – Giữ mạch sống y tế trong ngày Buôn Ma Thuột giải phóng | Câu chuyện thời hoa lửa