Bác sĩ Trần Duy Hưng - Chủ tịch UBHC TP. Hà Nội
Sáng ngày 10 tháng 10 năm 1954, hàng vạn người dân Hà Nội đổ ra đường trong rợp trời cờ hoa đón đoàn quân chiến thắng trở về tiếp quản Thủ đô. Giữa chiếc xe mui trần dẫn đầu đoàn Ủy ban Quân chính, Thiếu tướng Vương Thừa Vũ và Bác sĩ Trần Duy Hưng giơ tay vẫy chào đồng bào trong tiếng reo hò dậy sóng. Suốt giai đoạn 1954 – 1977, Bác sĩ Trần Duy Hưng đã cùng Hà Nội đi qua những năm tháng hào hùng mà gian lao nhất. Ông không chỉ là một nhà quản trị tài năng của thời kỳ khôi phục và kháng chiến, mà còn là hiện thân trọn vẹn nhất cho phong cách của người cán bộ cách mạng: liêm khiết, tận tụy, lấy sự sống còn, no ấm của từng người dân làm thước đo cho mọi hành động của chính quyền.

Sáng ngày 10 tháng 10 năm 1954, hàng vạn người dân Hà Nội đổ ra đường trong rợp trời cờ hoa đón đoàn quân chiến thắng trở về tiếp quản Thủ đô. Giữa chiếc xe mui trần dẫn đầu đoàn Ủy ban Quân chính, Thiếu tướng Vương Thừa Vũ và Bác sĩ Trần Duy Hưng giơ tay vẫy chào đồng bào trong tiếng reo hò dậy sóng.
Sau 9 năm kháng chiến trường kỳ ở chiến khu Việt Bắc, người thầy thuốc tài hoa trở lại tiếp quản vị trí người đứng đầu chính quyền thành phố. Giai đoạn 1954 – 1977 mở ra hơn hai thập kỷ đầy biến động: vừa tái thiết sau chiến tranh, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, rồi trực tiếp đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của không quân Mỹ. Suốt 23 năm ấy, Bác sĩ Trần Duy Hưng đã định hình một phong cách lãnh đạo mẫu mực: người đứng đầu đô thị nhưng gần gũi, tận tụy và liêm chính như một người cha, người thầy thuốc của nhân dân Thủ đô.

Phó Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội Trần Duy Hưng từ Việt Bắc tiến về tiếp quản Thủ đô năm 1954.(Ảnh Báo Nhân Dân)
Khôi phục mạch sống cho Thủ đô
Tiếp quản Hà Nội từ tay quân đội viễn chinh Pháp, chính quyền non trẻ đối mặt với muôn vàn khó khăn: nhà máy điện, nhà máy nước bị đe dọa tháo dỡ máy móc; rác thải ùn ứ; dịch bệnh rình rập và hàng vạn dân nghèo không có việc làm.
Trên cương vị Chủ tịch Ủy ban Hành chính, Bác sĩ Trần Duy Hưng mang tư duy của một nhà y học vào quản trị đô thị:
Ổn định an sinh và vệ sinh dịch tễ: Ông trực tiếp đến các nhà máy điện Yên Phụ, nhà máy nước Yên Phụ động viên công nhân giữ vững dòng điện, dòng nước sạch cho thành phố; phát động phong trào "Ba sạch" (ăn sạch, ở sạch, uống sạch), xóa bỏ các bãi rác lộ thiên, khơi thông cống rãnh 36 phố phường.
Xây dựng không gian công cộng: Ông chủ trương không bê tông hóa toàn bộ, mà kiên quyết giữ gìn các hồ nước tự nhiên làm "lá phổi xanh". Hồ Gươm, hồ Bảy Mẫu (Công viên Thống Nhất), hồ Tây được quy hoạch nạo vét, trồng cây xanh rợp bóng.
Phong trào lao động công ích: Khi thành phố khởi công xây dựng Công viên Thống Nhất năm 1958 trên một vùng đầm lầy rác rưởi, người dân Hà Nội thường xuyên thấy vị Chủ tịch thành phố cởi trần, đội mũ cói, tay cầm xẻng xắn từng tảng đất cùng hàng ngàn thanh niên, trí thức lao động suốt những ngày Chủ nhật đỏ.

Bác sĩ Trần Duy Hưng tại Lễ đặt tên phố Điện Biên Phủ, Hà Nội.(Ảnh Baotanglichsu.vn)
Tác phong "vi hành" và chiếc xe đạp cà tàng
Người dân Hà Nội thời bao cấp quen thuộc với việc vị Chủ tịch thành phố không bao giờ giam mình trong phòng lạnh hay dựa dẫm vào các bản báo cáo bàn giấy. Chiếc xe đạp Tiệp Khắc hoặc chiếc xe đạp Thống Nhất cũ kỹ là phương tiện di chuyển chính của ông.
Ông thường bất ngờ ghé vào các cửa hàng mậu dịch quốc doanh ở phố Hàng Bè, Tràng Tiền, hay chợ Đồng Xuân vào giờ cao điểm:
Thấy người dân phải đặt gạch, đặt nón xếp hàng rồng rắn từ 4 giờ sáng chỉ để mua vài lạng thịt, vài lít dầu hỏa, ông lặng lẽ đứng vào hàng để trải nghiệm nỗi vất vả của bà con.
Khi phát hiện mậu dịch viên có thái độ hách dịch, cân thiếu hay ưu tiên tuồn hàng ra cửa sau, ông bước lên chấn chỉnh nghiêm khắc ngay trước mặt công chúng, đồng thời chỉ đạo ngành thương nghiệp cải tiến quy trình phân phối, mở thêm quầy hàng lưu động tới các khu tập thể công nhân như Kim Liên, Nguyễn Công Trứ.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Mỗi khi nghe tin khu lao động bãi sông Hồng hay các xóm thợ nghèo bị ngập nước sau cơn mưa rào, ông lập tức xắn quần quá gối, xách ủng lội thẳng vào ngõ hẻm kiểm tra từng hố ga, nhắc nhở ban công ích khơi thông dòng chảy để bà con không phải chịu cảnh nước bẩn tràn vào nhà.
Người chỉ huy trên miệng hố bom B-52
Giai đoạn cam go nhất trong nhiệm kỳ của ông là những năm tháng Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, đỉnh điểm là 12 ngày đêm chiến dịch tập kích bằng máy bay B-52 vào cuối tháng 12 năm 1972.
Trong những ngày Hà Nội biến thành "tọa độ lửa", căn hầm chỉ huy dã chiến của Chủ tịch Trần Duy Hưng không lúc nào ngớt tiếng chuông điện thoại. Nhưng ông không ngồi yên dưới hầm:
Có mặt ngay khi bom vừa dứt: Đêm 26 tháng 12 năm 1972, khi bom rải thảm san phẳng khu phố Khâm Thiên và Bệnh viện Bạch Mai, ông là một trong những người đầu tiên lao tới hiện trường giữa đống đổ nát ngùn ngụt khói và mùi thuốc súng khét lẹt.
Trực tiếp cứu nạn: Phát huy đôi bàn tay của một bác sĩ ngoại khoa, ông lật từng mảng gạch vỡ, tự tay băng bó vết thương cho các nạn nhân, an ủi những gia đình có người thân thiệt mạng.
Quyết sách trong hoạn nạn: Ông ký lệnh khẩn cấp mở các kho gạo dự trữ, xuất cấp bạt gai, chăn ấm, gỗ nứa dựng lại lán tạm cho hàng ngàn người dân mất nhà cửa; đồng thời tổ chức sơ tán người già và trẻ em ra ngoại thành một cách trật tự, an toàn, kiên quyết không để dịch bệnh bùng phát hay thiếu đói xảy ra giữa vùng chiến sự.
Tấm lòng thanh liêm đến ngày rời nhiệm sở
Năm 1977, sau khi đất nước đã thống nhất và bước vào giai đoạn hòa bình mới, Bác sĩ Trần Duy Hưng rời cương vị Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội để nghỉ hưu.
Hơn hai thập kỷ nắm giữ quyền hành tối cao của một đô thị lớn, quản lý quỹ nhà đất, phân phối xe cộ và ngân sách, nhưng ông tuyệt đối không giữ lại cho riêng mình hay gia đình bất cứ một đặc quyền, đặc lợi nào:
Cả gia đình ông vẫn sống trong căn nhà khiêm nhường, mọi tiêu chuẩn lương bổng, tem phiếu thực phẩm đều đúng như bao cán bộ công chức bình thường khác.
Con cái ông tự lực phấn đấu học tập, không bao giờ được phép dựa vào uy danh của người cha làm Chủ tịch để xin việc hay thăng tiến.
Ngày ông bàn giao công việc, tài sản mang theo chỉ là chiếc cặp da sờn rách, vài bộ quần áo bạc màu và những cuốn sổ tay dày đặc ghi chép những trăn trở về đời sống dân sinh.
Suốt giai đoạn 1954 – 1977, Bác sĩ Trần Duy Hưng đã cùng Hà Nội đi qua những năm tháng hào hùng mà gian lao nhất. Ông không chỉ là một nhà quản trị tài năng của thời kỳ khôi phục và kháng chiến, mà còn là hiện thân trọn vẹn nhất cho phong cách của người cán bộ cách mạng: liêm khiết, tận tụy, lấy sự sống còn, no ấm của từng người dân làm thước đo cho mọi hành động của chính quyền.



