Người có công giúp đỡ cách mạng

Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp – Người thầy thuốc lấy máu mình cứu bệnh nhân giữa chiến khu

Từ một bác sĩ Tây học có phòng khám đông khách ở Mỹ Tho, Trần Hữu Nghiệp đã rời bỏ cuộc sống sung túc để đi theo kháng chiến. Giữa chiến khu thiếu thốn, ông vừa chữa bệnh, vừa đào tạo cán bộ y tế; có lần còn truyền chính máu của mình để giành lại sự sống cho một sản phụ.

Vĩnh Long25/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đêm cuối tháng 10 năm 1945, tiếng súng bất ngờ vọng vào thị xã Mỹ Tho. Quân Pháp tiến đánh thành phố, mở rộng cuộc chiến tranh tái chiếm Nam Bộ.

Sáng hôm sau, một người đàn ông mặc áo blouse, đội chiếc mũ quen thuộc của thầy thuốc và xách theo cặp da bước ra khỏi thị xã. Dáng vẻ đĩnh đạc của một bác sĩ giúp ông vượt qua những ánh mắt dò xét trên đường. Nhưng điểm đến của ông hôm ấy không phải là phòng khám hay bệnh viện.

Ông đi vào vùng kháng chiến.

Người bác sĩ ấy là Trần Hữu Nghiệp.

Ông sinh ngày 15 tháng 3 năm 1911 tại xã Tân Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Năm 15 tuổi, vì tham gia lễ truy điệu và để tang nhà yêu nước Phan Châu Trinh, ông bị đuổi khỏi trường công. Không từ bỏ việc học, ông lên Sài Gòn theo học tại Trường tư thục Huỳnh Khương Ninh, sau đó giành được học bổng và thi vào Trường Đại học Y khoa Hà Nội.

Năm 1937, Trần Hữu Nghiệp tốt nghiệp bác sĩ hạng ưu rồi sang Paris tu nghiệp. Trở về nước, ông mở phòng khám tư tại Mỹ Tho. Một bác sĩ Tây học khi ấy có thể sống đủ đầy, được trọng vọng và xây dựng cho mình một tương lai yên ổn.

Nhưng Trần Hữu Nghiệp không chọn sự yên ổn ấy.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tham gia Ban Tuyên truyền của Mặt trận Việt Minh tỉnh Mỹ Tho. Khi quân Pháp trở lại, ông chính thức rời gia đình, gia nhập lực lượng kháng chiến. Chiếc áo blouse từng xuất hiện trong phòng khám từ đó theo ông đến những căn cứ giữa đồng bưng và rừng sâu.

Tháng 3 năm 1946, khi đang phụ trách công tác cứu thương tại mặt trận cù lao An Hóa, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp nhận một nhiệm vụ đặc biệt. Ông cùng nhà giáo Ca Văn Thỉnh, bà Nguyễn Thị Định và các thành viên trong phái đoàn Khu 8 ra miền Bắc, báo cáo tình hình Nam Bộ và đề nghị Trung ương chi viện vũ khí.

Phương tiện của họ là một chiếc thuyền gỗ nhỏ. Từ vùng biển Bến Tre, đoàn vượt sóng ra Bắc trong điều kiện hết sức nguy hiểm. Tại Hà Nội, họ được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và hỏi thăm. Sau cuộc gặp, Trần Hữu Nghiệp được giữ lại công tác tại Cục Quân y vừa thành lập.

Cuối năm 1946, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Ông đi thanh tra công tác quân y tại Bắc Bộ và Liên khu 4. Tuy nhiên, trong lòng người bác sĩ Nam Bộ vẫn đau đáu nguyện vọng trở lại quê hương. Giữa năm 1947, ông trở về chiến trường miền Nam với trách nhiệm Tổng Thanh tra Quân y, sau đó tham gia xây dựng Sở Y tế quân dân Nam Bộ và giữ chức Phó giám đốc, trực tiếp phụ trách Khu 8.

Ở chiến khu, bệnh nhân rất đông nhưng thuốc men, dụng cụ và nhân lực đều thiếu. Trần Hữu Nghiệp hiểu rằng một bác sĩ dù tận tụy đến đâu cũng không thể cứu hết người bị thương. Muốn duy trì sức chiến đấu lâu dài, phải đào tạo thêm thật nhiều người biết cứu thương và chữa bệnh.

Bởi vậy, cứ có điều kiện là ông tổ chức các lớp cứu thương, y tá và y sĩ. Lớp học có khi đặt dưới mái lá, trong căn lán nhỏ hoặc giữa khu rừng còn đầy dấu vết bom đạn. Bảng đen và giáo trình có thể thiếu, nhưng những bài học về cách cầm máu, băng bó, chống nhiễm trùng và chăm sóc thương binh thì không được phép sơ sài.

Một đêm tại chiến khu miền Đông Nam Bộ, Trần Hữu Nghiệp nhận tin một nữ cán bộ đang trở dạ và gặp ca sinh khó. Ông cùng học trò mang túi cứu thương, đốt đuốc lá dừa xuyên rừng đến nơi.

Đứa trẻ được đỡ ra an toàn, nhưng người mẹ bị nhau tiền đạo, máu chảy dữ dội và nhanh chóng kiệt sức. Trong điều kiện chiến khu, nguồn máu dự trữ gần như không có. Trần Hữu Nghiệp lập tức yêu cầu học trò xác định nhóm máu của sản phụ. Khi biết bà cùng mang nhóm máu B như mình, ông quyết định lấy chính máu của mình truyền trực tiếp cho người bệnh.

Suốt nhiều giờ, người thầy thuốc vừa chỉ huy cấp cứu vừa trở thành người hiến máu. Đến sáng, sản phụ đã qua được cơn nguy kịch.

Lần khác, một chiến sĩ trẻ được đưa về bệnh viện với chân bị đạn bắn nát và đã hoại tử. Muốn cứu tính mạng người lính, kíp mổ buộc phải cắt bỏ phần chân bị thương, nhưng lúc ấy không có đủ thuốc gây mê. Khi mọi người chuẩn bị phẫu thuật, người chiến sĩ xin dừng lại một lát rồi cất tiếng hát bài Tiến quân ca. Hát xong, anh bình tĩnh báo với bác sĩ rằng mình đã sẵn sàng.

Trần Hữu Nghiệp cầm dao phẫu thuật, nước mắt chảy dài trên gương mặt. Ông hiểu nỗi đau người lính sắp phải chịu đựng, nhưng vẫn phải giữ đôi tay vững vàng để cứu anh.

Sau năm 1954, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp tập kết ra Bắc, làm Trưởng ban Huấn luyện Bộ Y tế rồi trở thành Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cán bộ Y tế Trung ương. Tại đây, ông tiếp tục đào tạo lực lượng y tế phục vụ đất nước và chuẩn bị cán bộ cho chiến trường miền Nam.

Năm 1965, khi đã ngoài năm mươi tuổi, ông một lần nữa vượt Trường Sơn trở lại chiến trường. Ông trực tiếp chữa bệnh tại bệnh viện của Miền và làm Hiệu trưởng Trường Đào tạo cán bộ y tế trung, cao cấp miền Nam. Nhiều học trò của ông sau này trở thành những bác sĩ và cán bộ lãnh đạo quan trọng của ngành y tế.

Không chỉ chữa bệnh và dạy học, ông còn viết nhiều sách phổ biến kiến thức sức khỏe bằng ngôn ngữ gần gũi như Phép nuôi con, Chữa bệnh cho con khi xa thầy thuốc, Nói chuyện với người uống rượuNói chuyện với người hút thuốc lá. Ông muốn kiến thức y khoa không chỉ nằm trong bệnh viện mà phải đến được với từng gia đình.

Năm 1988, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân ngay trong đợt đầu tiên. Ông qua đời năm 2006, để lại hình ảnh một người thầy thuốc dành trọn đời mình cho người bệnh và các thế hệ học trò.

Trần Hữu Nghiệp từng có trong tay một phòng khám đông khách và một cuộc sống đủ đầy. Nhưng khi đất nước cần, ông đã bước khỏi phòng khám, mang chiếc áo blouse vào chiến khu. Ở đó, ông chữa bệnh bằng kiến thức, đào tạo học trò bằng trách nhiệm và có lúc cứu người bằng chính dòng máu của mình.

Đối với ông, lời thề của người thầy thuốc không chỉ được nói trong ngày tốt nghiệp. Lời thề ấy phải được chứng minh suốt cả cuộc đời.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn