Bậc thầy ngoại giao - Lê Đức
Đỗ Thị Thanh Thiên - BT chi đoàn trường Tiểu học Hồng Đức
Ông Lê Đức Thọ - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương có nhiều năm hoạt động ở chiến trường từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ, ông từng giữ nhiều trọng trách trong Đảng.
Năm 1968, khi đang là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, ông Lê Đức Thọ được Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi về Hà Nội gấp để nhận nhiệm vụ là “Cố vấn đặc biệt” trong phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Paris đàm phán về hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.
Nhân sự ngoại giao kiệt xuất của cách mạng Việt Nam
Cuộc đàm phán tiến tới ký kết Hiệp định Paris kéo dài suốt hơn 4 năm giữa 4 bên: Phái đoàn của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm trưởng đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ là cố vấn, phái đoàn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (ban đầu do đồng chí Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, sau này bà Nguyễn Thị Bình lên thay), phía bên kia là phái đoàn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Cuộc đàm phán kéo dài nhất lịch sử là một mặt trận đúng nghĩa, ở đó là những cuộc cân não giữa các bên, giữa Mỹ và đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, giữa Mỹ và đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở chiến trường khốc liệt bao nhiêu, mặt trận ngoại giao căng thẳng bấy nhiêu.
Theo thống kê, cuộc đàm phán từ năm 1968 đến 1972 đã có 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 24 cuộc họp bí mật, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn...
Trong đó, những cuộc gặp riêng giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn An ninh quốc gia - Ngoại trưởng Mỹ lúc bấy giờ là Henry Kissinger được ví là những cuộc cân não lịch sử khi chiến trường tại Việt Nam đang ở thế giằng co khốc liệt.
Tư liệu từ Trung tâm Lưu trữ quốc gia II ghi chép, trong 3 năm 1970-1972, hai ông Lê Đức Thọ và Henry Kissinger trải qua hàng chục phiên đàm phán.
Kissinger từng nói về ông Lê Đức Thọ: “Ông quả là một đối thủ xứng tầm”, “Đàm phán với ông Lê Đức Thọ quả là chơi trò cân não”.
Theo tài liệu ghi chép từ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, ông Lê Đức Thọ được chọn sang Paris vì là người dày dạn kinh nghiệm chiến trường, phù hợp để thực hiện chiến lược “vừa đánh vừa đàm”.
Tình hình chiến sự liên tục biến động, chiến trường căng thẳng, nhưng trong mọi cuộc gặp riêng hay chung, ông Lê Đức Thọ luôn đi theo tôn chỉ, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cái bất biến là Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam, còn quân ta từ miền Bắc vào sẽ tiếp tục ở lại miền Nam Việt Nam chiến đấu đến ngày thống nhất.
Trong hồi ký “Gia đình, bạn bè và đất nước”, bà Nguyễn Thị Bình miêu tả những cuộc đối đầu căng thẳng giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Henry Kissinger là những cuộc đấu trí lịch sử.
Năm 1972, khi Mỹ liên tục gây hấn trên chiến trường, giữa ông Lê Đức Thọ, Bộ trưởng ngoại giao Xuân Thủy và Henry Kissinger đã có tranh cãi “nảy lửa” kéo dài hơn 2 tháng xoay quanh bản Dự thảo Hiệp định Paris.
Tháng 12.1972, Mỹ bất ngờ leo thang bắn phá miền Bắc, không kích liên tục 12 ngày đêm bằng B52 xuống Hà Nội, Hải Phòng. Nhưng kế hoạch gây sức ép này của Mỹ thất bại. Quân dân ta quả cảm giành chiến thắng trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh.
Trong cuốn sách “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ và Kissinger tại Paris” kể lại, khi Mỹ thất bại trận không kích, dư luận thế giới phẫn nộ phản ứng với chính quyền Mỹ, lúc này, họ buộc phải kết nối lại cuộc đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Paris.
Cuốn sách miêu tả, “Ông cố vấn Lê Đức Thọ trở lại bàn đàm phán với hào quang của trận Điện Biên Phủ trên không”. Trong hiệp đấu cuối cùng, ông Thọ thể hiện rõ quan điểm cương quyết đến cùng, yêu cầu Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình cho Việt Nam.
Để có được Hiệp định Paris lịch sử ký kết ngày 27.1.1973, Việt Nam đã có những nhân sự kiệt xuất trên cả mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao.
Trong đó, trên mặt trận ngoại giao kéo dài hơn 4 năm là dấu ấn, tài năng, sự kiệt xuất của ông cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy và nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình.
Từ chối giải Nobel Hòa Bình
Tháng 10.1973, sau khi ký kết thành công Hiệp định Paris, ông Lê Đức Thọ trở thành người Châu Á đầu tiên được trao giải Nobel Hòa Bình, cùng với Henry Kissinger. Nhưng, ông Lê Đức Thọ từ chối.
Tờ New York Times đưa tin, ông Thọ từ chối nhận Nobel Hòa Bình với lý do, “hòa bình chưa thực sự lập lại trên đất nước tôi”.
Trong cuốn sách “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ và Kissinger tại Paris” viết, ông Lê Đức Thọ sau đó đã gửi một bức thư đến Ủy ban Giải Nobel, trong đó ông viết rõ, Mỹ đã thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam như thế nào, bởi vậy, việc Ủy ban Nobel đánh đồng giữa kẻ xâm lược (Mỹ) với người bị xâm lược (nhân dân Việt Nam) là điều khiến ông không thể chấp nhận, vì thế ông không nhận giải.
Có nhiều lý do được đưa ra, nhưng sau này trả lời báo chí, con trai ông Lê Đức Thọ nói, cha anh sẽ không bao giờ nhận giải cho cá nhân mình. Ông Lê Đức Thọ cho rằng, ông phụng sự dân tộc, giải Nobel Hòa Bình nếu trao, chỉ nên dành cho dân tộc Việt Nam - những người đã nỗ lực đấu tranh và kiến tạo nên hòa bình.
Giải Nobel Hòa Bình năm 1973 đến nay vẫn là giải Nobel gây tranh cãi bậc nhất, bị báo chí, dư luận thế giới phản ứng, thậm chí “châm biếm” khi giải này trao cho Henry Kissinger. Tờ New York Times gọi giải này là “Nobel Chiến tranh”.
Nhiều tờ báo đưa tin, sau khi nhận giải Nobel Hòa Bình vắng mặt, Henry Kissinger đã cố gắng trả lại nhưng bị Ủy ban Nobel từ chối.


