Bài viết

BẬC THẦY QUÂN SỰ VÀ TRẬN ĐÁNH THAY ĐỔI LỊCH SỬ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp – vị "Đại tướng của nhân dân", một thiên tài quân sự thế giới với chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

17/09/2026Đoàn xã Tân Văn (Xã Tân Văn)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào mùa đông năm 1944, giữa lòng hang núi rừng Cao Bằng, một người thầy giáo dạy sử dáng người nhỏ nhắn nhưng ánh mắt sáng ngời đang đứng trước 34 chiến sĩ đầu tiên. Người đó chính là Võ Nguyên Giáp. Thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ông đã thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng ngày nay. Không qua một trường lớp quân sự chính quy nào, ông tự học, tự đúc kết chiến thuật từ lịch sử chống giặc ngoại xâm của cha ông, để rồi sau này trở thành vị Đại tướng đầu tiên khi mới 37 tuổi.

Đỉnh cao trong sự nghiệp cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Lúc bấy giờ, thực dân Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thành một "pháo đài bất khả xâm phạm" giữa thung lũng Tây Bắc. Các tướng lĩnh Pháp và phương Tây thách thức quân đội Việt Nam tiến vào, tin chắc rằng một quân đội non trẻ, thiếu thốn vũ khí sẽ thảm bại.

Ban đầu, phương án tác chiến được vạch ra là "Đánh nhanh, thắng nhanh" trong 3 ngày 3 đêm. Toàn bộ quân đội, pháo binh đã sẵn sàng vào vị trí, khao khát nổ súng. Thế nhưng, sau nhiều đêm thức trắng với nắm ngải cứu quấn trên đầu để chữa cơn đau chứng đau đầu dữ dội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận thấy cục diện thay đổi: Địch đã tăng cường lực lượng, phòng thủ kiên cố hơn. Nếu đánh nhanh, quân ta sẽ chịu tổn thất cực kỳ lớn.

Ngày 26/1/1954, chỉ vài giờ trước khi tiếng súng tiến công dự kiến bắt đầu, Đại tướng đã đưa ra "quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân" của mình: Hoãn lịch tiến công, ra lệnh cho bộ đội kéo pháo ra khỏi trận địa và chuyển sang phương án "Đánh chắc, tiến chắc".

Quyết định này ban đầu khiến nhiều tướng lĩnh và chiến sĩ ngỡ ngàng, hụt hẫng vì họ đã tốn bao mồ hôi, máu xương để kéo những khẩu pháo nặng hàng tấn qua đèo cao vực thẳm vào thung lũng. Nhưng tuân lệnh Đại tướng, quân dân ta lại đồng lòng kéo pháo ra, kiên trì đào hàng trăm cây số đường hào, siết chặt vòng vây quanh tập đoàn cứ điểm.

Sự thay đổi chiến thuật thiên tài đó đã đem lại quả ngọt. Sau 56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, vào chiều ngày 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" của quân đội ta tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Toàn bộ đồn bốt Pháp sụp đổ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ giải phóng miền Bắc, mà còn cổ vũ cho phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Tên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với hai chữ "Điện Biên Phủ", trở thành nỗi khiếp sợ của các tướng lĩnh đế quốc nhưng lại là biểu tượng của hòa bình và lòng tự tôn dân tộc.

Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ, Đại tướng luôn sống trọn vẹn với lời dạy của Bác Hồ: "Dĩ công vi thượng" (Đặt việc công lên trên hết). Khi ông qua đời vào năm 2013, hàng triệu người dân Việt Nam từ già đến trẻ đã đứng nối đuôi nhau suốt nhiều cây số trên đường phố Hà Nội, nước mắt lăn dài để tiễn đưa vị "Anh cả" của Quân đội về đất mẹ Quảng Bình.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
BẬC THẦY QUÂN SỰ VÀ TRẬN ĐÁNH THAY ĐỔI LỊCH SỬ | Câu chuyện thời hoa lửa