BÁC TÔN – TỪ LỜI THỀ BIỂN ĐEN ĐẾN 15 NĂM THÉP TRONG NGỤC TỐI CÔN ĐẢO
Từ ngọn cờ đỏ kiêu hãnh cất lên trên biển Đen đến 15 năm nếm trải đòn thù tàn khốc nơi "địa ngục trần gian" Côn Đảo, Chủ tịch Tôn Đức Thắng – Bác Tôn kính yêu – đã viết nên một bản hùng ca bất tử về khí tiết người cộng sản. Cả cuộc đời ông là tấm gương ngời sáng về lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và lối sống giản dị, khiêm nhường đến muôn đời sau.
Trong trái tim của mỗi người dân Nam Bộ và nhân dân cả nước, cái tên Bác Tôn luôn gợi nhớ đến hình ảnh một người già Nam Bộ phúc hậu, kiên cường nhưng vô cùng bình dị. Sinh năm 1888 tại vùng đất Cù lao Ông Hổ ngát xanh sông nước thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên (An Giang), người thanh niên Tôn Đức Thắng sớm bước vào đời thợ với bàn tay tài hoa và trái tim sục sôi nhiệt huyết yêu nước.
Năm 1915, ông bị chính quyền colonial Pháp bắt sang làm lính thợ hải quân. Nơi phương xa ấy, dấu ấn lịch sử rực rỡ đầu tiên đã khắc sâu tên tuổi ông: Tháng 4 năm 1919, trên chiến hạm France ở vùng biển Đen, người thợ máy người Việt Tôn Đức Thắng đã dũng cảm trèo lên cột buồm kéo cao ngọn cờ đỏ – cờ của Cách mạng Tháng Mười Nga – để phản đối cuộc can thiệp vũ trang của đế quốc và chào mừng Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới.
Trở về nước, ông lao vào phong trào công nhân Ba Son (Sài Gòn), rồi gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt và bị kết án 20 năm khổ sai. Năm 1930, chúng đày ông ra nhà tù Côn Đảo – "địa ngục trần gian" ngột ngạt giữa đại dương.
15 năm ròng rã trong ngục tối Côn Đảo (1930–1945) là chặng đường thử thách sinh tử khắc nghiệt nhất. Những đòn tra tấn dã man, những cùm sắt xà kle siết chặt thịt da và đòn thù thảm khốc của chúa đảo không làm nhụt chí người chiến sĩ ấy. Ông cùng các đồng chí kiên trung thành lập Chi bộ Đảng trong tù, biến ngục tối thành trường học cách mạng, chia sẻ từng ngụm nước, củ khoai để nâng đỡ nhau qua cơn sinh tử. Tình đồng chí keo sơn nảy nở trong gông cùm đã đúc kết nên bản lĩnh thép cho Bác Tôn.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ông trở về đất liền và sát cánh bên Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt hai cuộc kháng chiến vĩ đại. Tình bạn, tình đồng chí giữa Bác Hồ và Bác Tôn là biểu tượng cao đẹp của sự gắn bó keo sơn trong lịch sử cách mạng nước nhà. Sau khi Bác Hồ qua đời năm 1969, Bác Tôn được bầu làm Chủ tịch nước và đảm nhận trọng trách này cho đến khi từ trần.
Dù ở vị trí lãnh đạo cao nhất của đất nước, Bác Tôn vẫn giữ nguyên bản chất kiêm nhường của người thợ máy năm xưa. Nhân dân mãi ghi nhớ hình ảnh vị Chủ tịch nước tự tay sửa xe đạp, vá áo, lo toan từng công việc nhỏ trong gia đình với lối sống thanh bạch, liêm chính tuyệt đối.
Ngày 30 tháng 3 năm 1980, Bác Tôn nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng tại Hà Nội, hưởng thọ 91 tuổi.
Hôm nay, tại Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng ở Cù lao Ông Hổ (An Giang), chiếc xe đạp cũ, bộ dụng cụ sửa chữa thợ máy cùng những kỷ vật đơn sơ của ông vẫn nằm đó, lặng lẽ kể cho các thế hệ mai sau câu chuyện về một huyền thoại – người con ưu tú của Nam Bộ, vị Chủ tịch nước kính yêu trọn đời vì dân, vì nước.


