Bác Trần Quý Nội - Tấm gương cựu chiến binh mẫu mực
Bác: TRẦN QUÝ NỘI là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học (Tỷ lệ tổn thương cơ thể: 21%) Sinh năm: 1953 Địa chỉ tại: Tổ 2 Trong không khí chân tình của buổi thăm hỏi, bác Trần Quý Nội kể cho đoàn viên, thanh niên chúng tôi nghe về những năm tháng đầu đời. Bác Sinh năm 1953, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp; khi Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 vang dội, bác mới 1 tuổi. Bối cảnh ấy đã nuôi dưỡng trong thế hệ bác lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm. Từ nền tảng đó, bác chia sẻ rằng mình sinh ra trong gia đình giàu truyền thống, hăng hái tham gia phong trào xung kích thanh niên. Ký ức về những ngày lên đường vẫn được bác Trần Quý Nội nhắc lại với niềm tự hào và sự xúc động. Bác cho biết mình đã tòng quân ra tiền tuyến, tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Từ tuổi thiếu niên trong thời điểm Mậu Thân 1968, bác bước vào tuổi thanh niên khi đất nước đi tới Đại thắng mùa Xuân 1975 và tiếp tục bảo vệ biên giới năm 1979. Có những năm tháng đã lùi xa nhưng, với bác Trần Quý Nội, từng chi tiết về chiến trường vẫn còn nguyên vẹn. Điều còn in đậm trong tâm trí bác là trải qua thời kỳ hoạt động gian khổ tại địa bàn nhiễm chất độc hóa học. Khi kể về cuộc sống sau chiến tranh, bác Trần Quý Nội không né tránh những khó khăn do thương tật và bệnh tật. Bác cho biết mình mang di chứng tổn thương cơ thể tỷ lệ 21%. Sau những mất mát, bác Trần Quý Nội bắt đầu hành trình ổn định gia đình bằng ý chí và lao động. Bác luôn giữ vững phẩm chất anh Bộ đội Cụ Hồ, xây dựng gia đình hạnh phúc tại Tổ 2. Cùng nhịp phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới, bác kiên trì lao động, gìn giữ nếp sống và đồng hành với địa phương. Qua chia sẻ của người dân địa phương, chúng tôi hiểu thêm về sự tận tâm của bác Trần Quý Nội với cộng đồng. Theo lời bác, tại địa phương, bác gương mẫu chấp hành tốt các chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Lời cuối trong buổi gặp của bác Trần Quý Nội dành trọn cho đoàn viên, thanh niên. Bác nhắn nhủ: Nỗ lực rèn luyện, chủ động
Bác: TRẦN QUÝ NỘI là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học (Tỷ lệ tổn thương cơ thể: 21%)
Sinh năm: 1953
Địa chỉ tại: Tổ 2
Trong không khí chân tình của buổi thăm hỏi, bác Trần Quý Nội kể cho đoàn viên, thanh niên chúng tôi nghe về những năm tháng đầu đời. Bác Sinh năm 1953, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp; khi Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 vang dội, bác mới 1 tuổi. Bối cảnh ấy đã nuôi dưỡng trong thế hệ bác lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm. Từ nền tảng đó, bác chia sẻ rằng mình sinh ra trong gia đình giàu truyền thống, hăng hái tham gia phong trào xung kích thanh niên.
Ký ức về những ngày lên đường vẫn được bác Trần Quý Nội nhắc lại với niềm tự hào và sự xúc động. Bác cho biết mình đã tòng quân ra tiền tuyến, tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Từ tuổi thiếu niên trong thời điểm Mậu Thân 1968, bác bước vào tuổi thanh niên khi đất nước đi tới Đại thắng mùa Xuân 1975 và tiếp tục bảo vệ biên giới năm 1979.
Có những năm tháng đã lùi xa nhưng, với bác Trần Quý Nội, từng chi tiết về chiến trường vẫn còn nguyên vẹn. Điều còn in đậm trong tâm trí bác là trải qua thời kỳ hoạt động gian khổ tại địa bàn nhiễm chất độc hóa học.
Khi kể về cuộc sống sau chiến tranh, bác Trần Quý Nội không né tránh những khó khăn do thương tật và bệnh tật. Bác cho biết mình mang di chứng tổn thương cơ thể tỷ lệ 21%.
Sau những mất mát, bác Trần Quý Nội bắt đầu hành trình ổn định gia đình bằng ý chí và lao động. Bác luôn giữ vững phẩm chất anh Bộ đội Cụ Hồ, xây dựng gia đình hạnh phúc tại Tổ 2. Cùng nhịp phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới, bác kiên trì lao động, gìn giữ nếp sống và đồng hành với địa phương.
Qua chia sẻ của người dân địa phương, chúng tôi hiểu thêm về sự tận tâm của bác Trần Quý Nội với cộng đồng. Theo lời bác, tại địa phương, bác gương mẫu chấp hành tốt các chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Lời cuối trong buổi gặp của bác Trần Quý Nội dành trọn cho đoàn viên, thanh niên. Bác nhắn nhủ: Nỗ lực rèn luyện, chủ động nắm bắt cơ hội để phát triển bản thân. Lời dặn của bác trở thành điểm kết giàu ý nghĩa cho câu chuyện về lòng yêu nước và nghị lực sống.



