Cựu chiến binh

BÁC TRÌNH ĐÌNH DẦN-NHỮNG TRANG HỒI KÝ VỀ MỘT THỜI HOA LỬA

Lịch sử dân tộc Việt Nam là bản trường ca bất diệt được viết nên bằng máu, bằng hoa và cả nước mắt của bao thế hệ cha anh. Trong bản trường ca ấy, có những chương rực rỡ nhất, hào hùng nhất, những năm tháng mà người Việt Nam gọi bằng 2 tiếng thiêng liêng mà vô cùng tự hào “Thời hoa lửa”. Đó là thời đại của niềm tin và lý tưởng của những con người đã dâng hiến cả tuổi xuân, cả sinh mệnh cho độc lập, tự do của tổ quốc. Họ đi qua chiến tranh bằng đôi chân trần, bằng trái tim kiên trung và tình yêu

Thanh Hóa13/01/2026Liên đội trường tiểu học Thuận Minh (Liên đội trường tiểu học Thuận Minh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
      BÁC TRÌNH ĐÌNH DẦN-NHỮNG TRANG HỒI KÝ VỀ MỘT THỜI HOA LỬA

Lịch sử dân tộc Việt Nam là bản trường ca bất diệt được viết nên bằng máu, bằng hoa và cả nước mắt của bao thế hệ cha anh. Trong bản trường ca ấy, có những chương rực rỡ nhất, hào hùng nhất, những năm tháng mà người Việt Nam gọi bằng 2 tiếng thiêng liêng mà vô cùng tự hào “Thời hoa lửa”. Đó là thời đại của niềm tin và lý tưởng của những con người đã dâng hiến cả tuổi xuân, cả sinh mệnh cho độc lập, tự do của tổ quốc. Họ đi qua chiến tranh bằng đôi chân trần, bằng trái tim kiên trung và tình yêu nước không gì lay chuyển được. Thế nhưng thời gian vẫn lặng lẽ trôi, những nhân chứng của một thời hoa lửa ấy, những người đã từng đi qua bao mưa bom bão đạn. Nay mái tóc đã bạc, bước chân đã chậm, đôi mắt đã mờ đi vì năm tháng nhưng những kí ức về một thời “ Xông pha nơi trận mạc” vẫn còn vẹn nguyên trong tâm hồn của người lính cụ Hồ thưở nào. Chúng tôi đến thăm ông vào một ngày cuối đông năm mới Ất Ngọ 2026. .

Chúng tôi chăm chú ngồi lắng nghe ông kể về những năm tháng chiến đấu oanh liệt của mình khiến chúng tôi không khỏi rưng rưng nơi khóe mắt, sống mũi cay cay, nghèn nghẹn.

Nhân vật mà chúng tôi muốn nói đến là ông Trịnh Đình Dần, sinh ngày 01/02/1926, tại Thôn 3 Yên Trường, xã Thọ Lập. Ông đã từng tham gia 2 cuộc kháng chiến chống pháp và chống mỹ của dân tộc. Từng giữ chức vụ Phó Tư lệnh Sư Đoàn 367 và về hưu năm 1975 với quân hàm Đại tá. Ông kể:

“Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo tại thôn 3 Yên Trường, xã Thọ Lập, cái nôi của quê hương cách mạng. Khi còn nhỏ, được ăn học 3 năm với ông bác ở thôn. Vì gia cảnh nghèo khó nên quanh năm ngày tháng phải đi Đồng Năng hái củi kiếm sống qua ngày. Cách mạng tháng tám năm 1945, khi đó tuổi đời cũng vừa trưởng thành, tâm tư nguyện vọng của chàng trai trẻ ở độ tuổi mười tám đôi mươi lúc này muốn được đi xa, đi đến nhiều nơi để hiểu rõ hơn về đất nước và con người Việt Nam. Muốn được làm một việc gì đó cho cách mạng, khát vọng cống hiến cho dân tộc. Ở lứa tuổi thanh niên, bản thân tôi đã tình nguyện đứng vào hàng ngũ dân quân tự vệ của xã. Tháng 2/1946 đi khai hoang lập ấp tại Ngọc Lặc, Thanh Hóa. Năm 1947 đi vệ quốc đoàn, Tiểu đoàn 355, Trung đoàn 77, Quân khu 4. Tháng 5/1947 đi mặt trận Chiềng Vang, Phủ Bản, Hòa Bình. 5/1948 đi mặt trận Củ Lũng, Bá Thước. Tôi làm nhiệm vụ liên lạc. Nhiều ngày đi thì đến một tảng đá trên đường mòn để nghỉ chân. Hôm đó đi được một đoạn thì đến được tảng đá , nghĩ bụng sao hôm nay đến nhanh thế, tiến lại gần thì phát hiện ra một con hổ đang nằm quật đuôi phành phạch. Tôi giữ bình tĩnh đập tay vào báng súng làm nó giật mình nhảy tót đi. Tôi leo vội lên cây nghe ngóng một lúc rồi đi tiếp. Tôi thoát chết trong gang tấc. Đi liên lạc tìm cái ăn, vào rừng đến địa điểm, đồng đội đi vào lán lấy đồ ăn đến khi xách ra thì bị quân đich phát hiện và bắn chết tại chỗ. Tôi liền chạy về đơn vị gọi thêm người ra khiêng xác đồng đội về. Lúc gọi được người đến thì tôi khiêng đằng chân, đồng chí khiêng đằng đầu. Bị quân địch gài mìn nên bị nổ và đồng đội hy sinh. Còn tôi thì may mắn sống sót”. Với những thành tích và những đóng góp cho cách mạng, ngày 23/9/1949, ông đã vinh dự chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây cũng chính là mốc son, là niềm vui, niềm tự hào, là vinh dự và cũng là động lực thôi thúc bản thân ông cần phải cố gắng nhiều hơn nữa cho sự nghiệp đấu tranh và giải phóng dân tộc. Ông bồi hồi nhớ lại: “Tháng 5/1950, tôi đi tham gia trận đánh Mường Xia giáp Lào. Tôi nhớ nhất ở trận đánh này khí hậu khắc nghiệt, dịch sốt rét hoành hành. Đồng tôi một phần chết vì sốt rét, không có thuốc men. Khi đánh trận xong, người mình trở nên tồi tệ quá, áo quần lem luốc bùn lầy, súng đầy bụi đất, giày thì một chiếc còn, một chiếc mất. Mặt mũi hốc hác, da tái ngắt vì đói, vì rét. Người phờ phạc, đôi mắt cứng đờ đi vì thiếu ngủ, râu ria mọc lên tua tủa trông thật gớm”.

Tháng 2/1951, ông đi Cao Bằng nhận hàng viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc. Tháng 1/1953, dẫn Đại đội trưởng, Tiểu đoàn 396 trực tiếp chiến đấu trận Điện Biên Phủ. Ông nói: “ Kỷ niệm khiến tôi nhớ nhất trong cuộc đời người lính đánh trận ở trận đánh Điện Biên Phủ này là máy bay đến thả bom, y sĩ nằm trên giường, tôi bị thương nhẹ nên nhường giường nằm xuống đất. Khi bom rơi thì sức nổ mạnh quá nên đồng đội nằm trên hi sinh ngay tại chỗ, tôi nằm dưới đất may mắn lại thoát chết”. Tháng 10/1954, ông hành quân về thủ đô Hà Nội ăn mừng ngày chiến thắng. Tháng 1/1955 tiểu đoàn hành quân vào Quảng Bình, trực thuộc sư đoàn 325, Quân khu 4. Nhận nhiệm vụ cơ động tác chiến trong quân khu 4 và bảo vệ hành lang tri viện vào nam của trung đoàn 559.

Ngày 18/11/1964, ông dẫn tiểu đoàn trưởng sư đoàn 325 chỉ huy đánh thắng trận đầu, bắn rơi tại chỗ 3 máy bay phản lực. Tiếp 3 ngày sau, bắn rơi 2 máy bay T28 của Lào, bay trinh sát theo đường mòn Hồ Chí Minh. Từ đó, lính ngụy tăng cường hoạt động ngày đêm ác liệt, đủ các loại vũ khí, chất độc B52, bom mìn chỉ điểm phá hoại. Tiểu đoàn 14, trực thuộc quân khu 4 cơ động tác chiến trong 3 tỉnh phía nam và bảo vệ vận chuyển trong chiến tranh phá hoại của địch, bảo vệ an toàn. Ông nhớ lại: “Trong khoảng thời gian này, bản thân tôi trực tiếp chỉ huy trung đoàn 282 tiếp chuyển nhiệm vụ, bảo vệ, vận chuyển cho binh trạm 9. Đồng thời tổ chức sẵn sàng chiến đấu đánh tiểu đoàn ngụy thực hiện chiến dịch Lam Sơn 719 dọc đường 9. Sư đoàn 377 đang làm nhiệm vụ chốt các cửa khẩu, có lệnh chuyển lên đường 9 chi viện cho 559 vận chuyển cho mặt trận 81 ngày đêm. Chuẩn bị chi viện cho mặt trận Tây Nguyên và sẵn sàng cho chiến dịch Huế - Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Với những đóng góp to lớn cho cách mạng và tình yêu đất nước, tinh thần chiến đấu hy sinh quyên thân mình vì độc lập, tự do cho đất nước, cho dân tộc, Ông đã vinh dự và tự hào biết bao khi được nhà nước, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ghi nhận trao tặng những huân huy chương và các huy hiệu rất có giá trị.

Ông đã về hưu và nghỉ theo chế độ từ năm 1975 đến nay. Chúng tôi gặp ông khi ông đã bước sang 100 tuổi tròn, bản thân ông vẫn minh mẫn, dù đôi chân yếu phải chống gậy mỗi khi bước đi. Mái tóc đã bạc trắng, nụ cười hiền cùng đôi mắt sáng ngời trên khuôn mặt điềm đạm, phúc hậu.

Buổi gặp gỡ, trò chuyện đầy ý nghĩa này đã để lại trong ông cảm xúc ở tuổi xế chiều là sự đan xen giữa niềm tự hào, trân trọng sự sống, biết ơn đồng đội đã hi sinh. Nỗi nhớ da diết và những kỷ niệm khó quên trên chiến trường, đôi khi là những tổn thương thầm lặng. Nhưng trên hết vẫn là ý thức sâu sắc về trách nhiệm sống tốt đẹp cho bản thân, gia đình và xã hội để xứng đáng với những hi sinh đã qua, sống trọn vẹn từng khoảnh khắc bình yên. Giọng ông trầm lắng: “Bản thân tôi luôn có ý thức xây dựng gia đình văn hóa mẫu mực, nuôi dạy con cháu trưởng thành, trở thành người công dân tốt, người cán bộ gương mẫu”.

Hằng năm, kế thừa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, lớp lớp các thế hệ thanh niên, học sinh luôn thể hiện lòng biết ơn thế hệ cha ông thời hoa lửa bằng cách sống có trách nhiệm, học tập, lao động tốt, dựng xây đất nước, gìn giữ truyền thống lịch sử qua các hoạt động tri ân, kể chuyện và tham gia các chương trình tình nguyện để “ tiếp lửa”, biến lòng biết ơn thành hành động thực tiễn, xứng đáng với sự hy sinh cao cả của những anh hùng “ Thời hoa lửa”.

Chia tay ông, chúng tôi ra về trong một tâm trạng bịn rịn, lưu luyến xen lẫn niềm khâm phục và lòng ngưỡng mộ về ông một nhân cách cao thượng, một người lính “ cụ Hồ thời hoa lửa” luôn rực cháy nhiệt huyết yêu nước và tinh thần cống hiến không biết mệt mỏi cho dân tộc Việt Nam. Ông nói trong niềm phấn khởi, tự hào: “ Địa phương và các thế hệ thanh niên, thiếu niên luôn dành sự quan tâm thăm hỏi, tặng quà và dành những tình cảm đặc biệt động viên tôi và gia đình nhân dịp các ngày lễ lớn của dân tộc. Đó là nguồn động lực to lớn giúp tôi sống vui, sống khỏe bên con cháu và gia đình và tận hưởng cuộc sống của đất nước đang từng ngày đổi thay”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn