Bạch Đằng Giang vĩ đại năm 1288 – Hào khí Đông A và thiên tài quân sự của Hưng Đạo Đại Vương
Đầu năm 1288, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ ba, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn đã chọn sông Bạch Đằng vùng Thủy Nguyên làm nơi quyết chiến chiến lược. Dựa trên di sản cọc gỗ của Ngô Quyền và sự đồng lòng của quân dân Đất Cảng, ông đã dàn trận địa cọc, kết hợp hỏa công tiêu diệt hoàn toàn hạm đội ô hợp của Ô Mã Nhi, bắt sống các tướng Nguyên, đập tan vĩnh viễn dã tâm xâm lược của đế chế Nguyên Mông hung hãn nhất thế giới.
Đầu năm 1288, đế chế Nguyên - Mông – một lực lượng quân sự hùng mạnh và tàn bạo nhất thế giới bấy giờ, từng gieo rắc nỗi kinh hoàng từ Á sang Âu – rơi vào bế tắc hoàn toàn trong cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Trước chiến lược "Vườn không nhà trống" thiên tài và sức phản công dũng mãnh của quân dân nhà Trần, quân Nguyên lâm vào tình trạng cạn kiệt lương thực, dịch bệnh hoành hành, tinh thần hoang mang tột độ. Thoát Hoan buộc phải quyết định chia quân rút lui về nước. Trong đó, đại tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp và Tích Lệ Cơ chỉ huy một hạm đội khổng lồ gồm hơn 400 chiến thuyền cùng hàng vạn quân tinh nhuệ rút theo đường sông Bạch Đằng ra biển.
Nắm chắc quy luật vận động và đường rút lui của địch, Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã quyết định chọn vùng hạ lưu sông Bạch Đằng, đặc biệt là khu vực Tràng Kênh (Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày nay) làm địa điểm giăng bẫy tiêu diệt toàn bộ hạm đội địch. Kế thừa bài học dùng cọc gỗ đánh địch của Ngô Quyền năm 938 nhưng ở một tầm vóc và quy mô hoành tráng hơn gấp nhiều lần, Hưng Đạo Vương đã chỉ đạo huy động hàng vạn quân sĩ cùng nhân dân Hải Phòng đốn gỗ lim, gỗ sến từ các dãy núi xung quanh, vót nhọn, cắm thành hàng loạt bãi cọc phức tạp tại các khu vực sông Chanh, sông Rút, sông Đá Bạc và các luồng lạch chiến lược. Quân dân Đất Cảng không quản ngại đêm ngày, gian khổ, vừa đóng cọc, vừa tích trữ lương thảo, dẫn đường và tham gia mai phục khắp các dãy núi đá vôi hiểm trở ở Tràng Kênh.
Sáng ngày 9 tháng 4 năm 1288, khi đoàn chiến thuyền đồ sộ của Ô Mã Nhi nương theo chiều nước dâng tiến vào sông Bạch Đằng, tướng Nguyễn Khoái được lệnh dẫn các toán thuyền nhẹ ra nghênh chiến rồi giả vờ thua chạy vội vã. Ô Mã Nhi vốn tính kiêu ngạo, lại cậy thuyền to đạn nhiều, đã xua toàn bộ hạm đội điên cuồng đuổi theo. Đến khi toàn bộ hạm đội Nguyên Mông đã lọt trọn vào lòng trận địa mai phục trên sông Bạch Đằng, thủy triều bắt đầu đổi dòng, rút nhanh cuồn cuộn. Ngay lập tức, Trần Quốc Tuấn phát hiệu lệnh tổng tấn công. Quân Đại Việt từ các ngả đường, từ các hang núi Tràng Kênh và các nhánh sông đồng loạt xông ra như vũ bão, khép chặt vòng vây bọc lót.
Thuyền địch hốt hoảng quay đầu tháo chạy nhưng đã quá muộn. Nước triều rút cạn làm lộ ra bãi cọc gỗ dũng mãnh nhô lên như hàng rào sắt. Những chiến thuyền khổng lồ của quân Nguyên va đập mạnh vào cọc nhọn, bị đâm thủng đáy, chìm đắm liên tục và vướng móc vào nhau thành khối hỗn loạn. Đúng lúc đó, quân nhà Trần thả các thuyền chứa rơm rạ phủ dầu đang bốc cháy hừng hực theo dòng nước lao thẳng vào hạm đội địch, đồng thời bắn hỏa tiễn dồn dập. Cả một vùng sông Bạch Đằng biến thành biển lửa ngút trời. Tiếng la thét thảm thiết của quân giặc hòa lẫn với tiếng reo hò "Sát Thát" rúng động đất trời của hào khí Đông A. Hàng vạn quân Nguyên bị tiêu diệt, xác giặc trôi kín mặt sông, toàn bộ hạm đội 400 chiến thuyền bị phá hủy hoàn toàn. Các đại tướng kiêu ngạo Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ đều bị bắt sống tại trận.
Chiến thắng đại tiệc Bạch Đằng năm 1288 là đỉnh cao chói lọi trong lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam và thế giới. Trận đánh không chỉ đập tan hoàn toàn dã tâm xâm lược Đại Việt của nhà Nguyên, mà còn giáng một đòn chí mạng, làm sụp đổ huyền thoại bất bại của đế chế Mông - Nguyên trên phạm vi toàn cầu. Tên tuổi của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng tinh thần đoàn kết "Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức" mãi mãi là biểu tượng tự hào bất diệt của dân tộc Việt Nam và nhân dân vùng đất Hải Phòng anh hùng.



