Bài viết

"Bài ca hy vọng” và tình yêu duy nhất!

Ba lần bị bắt, tưởng như người nữ biệt động Sài Gòn nhỏ bé được mệnh danh “con thoi sắt” không thể trở về dưới đòn thù dã man của bọn Mỹ-ngụy...

Hà Tĩnh10/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ba lần bị bắt, tưởng như người nữ biệt động Sài Gòn nhỏ bé được mệnh danh “con thoi sắt” không thể trở về dưới đòn thù dã man của bọn Mỹ-ngụy. Vậy mà Mai đã trở về. Trở về từ cõi chết. Trở về với một thân hình tiều tụy mang đầy những thương tích và một nghị lực sống mạnh mẽ…

Trinh nữ biệt động và những màn tra tấn tàn khốc...

Xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam mùa khô hanh. Giặc càn. Mai chạy theo mẹ, ngoái nhìn xóm làng, hình ảnh mái tranh cháy ngùn ngụt, những người thân bê bết máu, kêu van đau đớn dưới gót giày đinh Mỹ-ngụy, ánh thép tanh tưởi của chiếc máy chém in sâu vào đôi mắt thơ ngây. Ba mẹ và các anh Mai đều thoát ly làm cách mạng. Chính lòng căm thù giặc cùng với truyền thống gia đình đã truyền cho Mai nhiệt huyết. 16 tuổi, Mai làm giao liên ở huyện đội rồi vào miền Nam nhận nhiệm vụ trong Đội biệt động 90C.

Nữ biệt động Nguyễn Thị Mai thời còn hoạt động. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Mang nét quê kiểng nên khi Mai vào vai cô nông dân làm đồng, chở trái mít, giỏ khổ qua (mướp đắng) rỗng ruột có nhồi vũ khí đều dễ dàng qua mắt địch. Các trận đánh của Việt cộng trong nội thành Sài Gòn diễn ra liên tiếp khiến bọn địch tăng cường kiểm soát. Ngày nọ, chiếc xe lam vừa đi qua kênh Xáng, bọn chúng ra hiệu khám xét. Mai bị bắt với số vũ khí, truyền đơn giấu trong ruột khổ qua. Chúng tra tấn Mai dã man: Đi tàu bay (cho người treo lủng lẳng rồi thả bất ngờ xuống nền xi măng); giật điện; chiếu bóng đèn... Mai vẫn một mực: Tôi không biết, người ta nhờ tôi đem giùm... Điên tiết với “con Việt cộng ngoan cố”, chúng quyết định ra đòn cuối cùng. Con lươn đưa vào chỗ kín khiến Mai nghiến chặt răng nén tiếng thét đau đớn… Lời dặn của mẹ vẳng bên tai: “Dù bị tra tấn cỡ nào cũng phải chịu đựng, không được hé răng nghe con. Làm vậy là hèn hạ, là phản lại tổ chức, phản lại đồng đội”.

Máu đỏ càng khiến tên ác ôn như con thú sôi máu, hắn đập vỡ cổ chai bia và mỗi tiếng “Khai không?” là một lần cổ chai sắc lẹm đâm toạc vào chỗ kín bê bết máu. Mai oằn mình. Ánh mắt lờ đờ nhìn tên ác ôn nghiến răng xoáy cổ chai vào da thịt, miệng cô vẫn mấp máy: “Tôi không biết, tôi không biết…” đến khi ngất đi. Tuổi đôi mươi xinh đẹp, bao nhiêu ước mơ của đời người con gái, Mai đánh đổi, hy sinh tất cả vì cách mạng, vì mong một ngày người dân nghèo mừng vui bưng bát cơm đầy…

Trong xà lim, tiếng hát của chị em cứ ngân lên: “... Về tương lai, ngày quê hương màu xanh áo mới/ Chứa chan niềm tin đường ta đi xanh thắm mộng đời/ Về tương lai, đàn chim ơi/ Cùng ta cất cánh kìa ánh sáng chân trời mới đang bừng chiếu/ Bốn phương, gió mưa, buồn thương, mùa đông và mây mù sẽ tan”. Lấy chút hơi tàn, Mai lẩm nhẩm hát theo. Sau này, Mai mới biết đó là “Bài ca hy vọng”. Nhờ các chị em đấu tranh quyết liệt, bọn địch mới đưa cô đi chữa trị. Nằm ở Bệnh viện Nguyễn Thái Học (nay là Bệnh viện Nhân dân Gia Định), đêm đến, đợi tên địch ngủ say, Mai tìm cách vần chân ra khỏi còng, bỏ trốn. Tin Mai trở về đơn vị trong tình trạng như thế khiến các anh em không khỏi bất ngờ, ai cũng tưởng cô đã chết.

Vết thương chưa kịp lành, Mai đã xông xáo xin nhận nhiệm vụ mới. Nhanh nhẹn như “con thoi sắt” trên đường phố, Mai cùng các anh, chị em hoàn thành những nhiệm vụ quan trọng như: Đánh phá hai trung tâm vô tuyến truyền hình; diệt tên mật thám Ba “xe ngựa”; đánh bom bãi xe hậu cần của Mỹ… Chính thành tích nổi bật đó, cuối năm 1968, Mai được cử đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn miền và được bà Nguyễn Thị Định tặng súng.

Từ khi về đơn vị, Mai coi như hạnh phúc của riêng mình đã chấm dứt. Cô không hay rằng, nết ăn, nết ở của mình cùng nghị lực phi thường, hết lòng vì nhiệm vụ của cô đã khiến nhiều người “thầm thương trộm nhớ”. Trong đó có chàng tân binh Huỳnh Kiều hơn Mai hai tuổi.

Một lần đi công tác, anh ngập ngừng: “Mai nè, sao Mai chưa tính chuyện chồng con?”. Mai bứt cọng cỏ ven đường: “Ôi, chiến tranh mà, chồng con gì anh”. Anh gãi đầu: “Còn tôi đang tính lấy vợ, mà phải là người cùng quê”. “Vậy để tui làm mai anh với cô Nga, Quảng Nam”. Đến lúc này, Huỳnh Kiều gãi đầu tợn, anh ngập ngừng: “Nhưng… nhưng… tôi không ưng cô Nga. Tôi… tôi ưng Mai thôi”. Mai thở dài nói với anh về thương tật của mình, sợ rằng nếu làm vợ ai đó, cô không thể sinh con được. Nghe thế, đôi mắt anh càng nhìn Mai trìu mến hơn.

Ngày hôm sau, anh lên báo cáo tổ chức. Đồng chí Mười Phương, Trưởng ban Cán bộ, nhìn Kiều ái ngại: "Anh có chắc là anh yêu Mai và nguyện sống với cổ suốt đời?”. Huỳnh Kiều gật đầu. Anh thương Mai bằng tình yêu, bằng tình thương, mến phục nghị lực phi thường của người con gái đồng hương. Ông vỗ vai: “Được, sau này bây mà bỏ con Mai là coi chừng tao đó nghe”.

Chuyện Mai bị bắt lần hai và trở về sau ba tháng bị địch giam cầm càng khiến tình yêu của họ thắm thiết hơn. Đám cưới đã định. Trước đám cưới, Mai còn một nhiệm vụ phải vào thành. Tiễn người yêu lên đường, anh có cảm tưởng như mười ngày làm nhiệm vụ như mười thu xa ngái. Mai cúi xuống, thấy đôi dép của anh bị đứt liền đổi đôi dép của mình cho anh, dặn: “Anh gắng chờ, ít bữa em về”. Tâm trí cô nghĩ về đám cưới và tương lai phía trước mịt mờ, liệu đó có là mối tình vô vọng, chẳng thể “đơm hoa kết trái”. Bất chợt, Mai lại hát khe khẽ: “Về tương lai, ngày quê hương màu xanh áo mới/ Chứa chan niềm tin đường ta đi xanh thắm mộng đời…”. Anh cốc đầu: “Em hát mà như đọc vậy hỉ”. Và ai ngờ, cái hẹn đó không chỉ mười thu đợi chờ...

"Mây mù sẽ tan... xanh thắm mộng đời...”

Một tên phản bội chỉ điểm Mai ngay khi chiếc xe thồ đáp chợ Củ Chi. Sau đủ trò tra tấn, chúng quấn giẻ tẩm xăng vào chân Mai, đe dọa: “Khôn hồn thì khai đi không thôi tao cho mày què suốt đời”. Ngọn lửa bùng lên chân phải. “Không khai tao châm luôn bàn chân còn lại rồi tạt xăng cho mày chết”. Mai rít qua kẽ răng: “Cởi chân kia ra đi, tôi khai”. Khi chân trái vừa được tháo, Mai châm nốt vào chân phải đang bốc cháy ngùn ngụt, đôi chân cô thành ngọn đuốc sống. Mai lẩm nhẩm giai điệu quen trong tiếng la hét điên loạn của bọn ác ôn. “Mình sẽ vĩnh viễn câm lặng. Tụi bây không thể khai thác được gì đâu”. Trong khốc liệt đời người, đôi khi chỉ cần một niềm hy vọng. Hy vọng nghĩa là sống ngay cả khi ta đang kết thúc sự sống. Đôi mắt người yêu, khuôn mặt hồn hậu của người mẹ hiện ra trong lời ca khe khẽ của Mai.

Ông bà Mai-Kiều hiện nay.

Mai không chết nhưng cô ở tù một năm với án mù. Ngày trở về, vết thương vẫn rỉ mủ. Huỳnh Kiều ôm Mai nấc nghẹn. Năm 1973, một đám cưới đơn sơ diễn ra. Cô dâu vẫn mảnh áo đen sờn, tóc không cài hoa, khập khiễng bước thấp bước cao. Chú rể vẫn chiếc quần bà ba cũ.

Tin Mai có bầu khiến cả đơn vị sốt sắng, ai cũng muốn nhìn tận mắt để chứng kiến điều kỳ diệu của tình yêu. Chính Mai cũng không tin mình có thể mang thai, đó như món quà lớn nhất mà ông trời ưu ái tặng vợ chồng sau bao nhiêu tai ương, khổ lụy. Trong rừng, cuộc sống chiến đấu đầy vất vả, thiếu thốn nên con trai Mai ra đời thiếu tháng. Không có sữa, chỉ nhờ nước cơm mà cậu bé lớn lên trong tình yêu thương của các cô, các chú biệt động.

Đại thắng mùa Xuân, thống nhất đất nước năm 1975, vợ chồng Mai và đứa con thơ hòa cùng đồng đội về lại Sài Gòn trong cờ, hoa reo mừng. Một mầm sống khác đang tiếp tục nảy mầm trong người nữ thương binh ấy.

Sau khi sinh lần thứ hai, chỗ kín của bà liên tục bị viêm nhiễm. Các bác sĩ Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh kết luận bà bị ung thư tử cung. Nhưng họ lầm, nghe bà kể, họ rùng mình hiểu ra sự tình. Vị bác sĩ trưởng khoa thẳng thắn khuyên: Một là chồng không quan hệ chăn gối với vợ, hai là bà chấp nhận để ông đi lấy người khác. Ông bảo với vợ rằng: “Mình tặng cho tôi hai đứa con thông minh, giỏi giang như vầy là tôi cảm ơn mình suốt đời rồi. Hãy để tui ở bên mình, lo lắng cho mình”. Bà nghe, vừa cười, vừa chảy nước mắt. “Vì yêu, trái tim trở nên can đảm. Nó chỉ còn toàn những gì thuần khiết, chỉ dựa vào những gì cao thượng và lớn lao”. Câu nói của đại danh hào Vích-to Huy-gô đã giải đáp điều kỳ diệu ấy.

Bây giờ, đã vào ngưỡng thất thập, điều quý giá nhất của ông bà là hai con trai đều thành đạt và có gia đình êm ấm. Tiếng cười vẫn rộn ràng căn nhà trên đường Bàu Cát, quận Tân Bình (TP Hồ Chí Minh), có vị nếp ngọt thơm mỗi sáng bà đồ, bán cho khách qua đường. Trong làn hơi xôi ngào ngạt, tôi nghe bà khe khẽ hát cho hai đứa cháu nội những giai điệu quen: “… Kìa ánh sáng chân trời mới đang bừng chiếu/ Bốn phương, gió mưa, buồn thương, mùa đông và mây mù sẽ tan”.

Bà bảo, đó là bài hát duy nhất bà thuộc!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn