Bài viết Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Bầu – Một đời lặng lẽ hy sinh vì Tổ quốc
VŨ PHƯƠNG THẢO
Có những người mẹ không trực tiếp cầm súng ra chiến trường nhưng cả cuộc đời lại gắn liền với những cuộc kháng chiến của dân tộc. Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Bầu, ở thôn Lãn Tranh 1, xã Liên Chung, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, là một trong những người mẹ như thế. Từ những ngày gùi đạn, tải lương trên tuyến lửa Điện Biên đến những năm tháng tiễn hai người con trai lên đường rồi mãi mãi không trở về, cuộc đời mẹ là câu chuyện lặng lẽ về sự hy sinh, lòng yêu nước và đức hy sinh cao cả của người phụ nữ Việt Nam.
Sinh năm 1928, Mẹ Nguyễn Thị Bầu lớn lên trong những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh. Cùng với chồng là ông Nguyễn Văn Chất, mẹ sớm tham gia phục vụ cách mạng. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ông Chất xung phong đi dân công hỏa tuyến suốt bốn tháng. Ít lâu sau, khi mặt trận cần thêm lực lượng vận chuyển lương thực và đạn dược, người phụ nữ mới 26 tuổi đã gửi đứa con thơ cho ông bà chăm sóc để lên đường làm dân công hỏa tuyến.
Giữa núi rừng Tây Bắc, nơi bom đạn luôn rình rập, mẹ cùng đồng đội ngày đêm vận chuyển hàng chục kilôgam đạn dược, lương thực bằng xe thồ, gánh bộ hay trên đôi vai nhỏ bé. Ban ngày tránh máy bay địch, ban đêm lại lặng lẽ hành quân trong rừng, ngụy trang bằng cây lá để bảo đảm bí mật. Không chỉ vận chuyển hàng hóa, những người dân công còn san lấp hố bom, sửa đường, sửa cầu, giữ cho mạch máu giao thông luôn thông suốt phục vụ chiến dịch.
Khoảng thời gian trực tiếp phục vụ chiến trường tuy không dài nhưng đã trở thành ký ức không thể nào quên trong cuộc đời mẹ. Với mẹ, được góp một phần công sức nhỏ bé vào chiến thắng Điện Biên Phủ là niềm tự hào theo suốt cuộc đời.
Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, mẹ trở về quê hương, tiếp tục tham gia công tác Hội Phụ nữ và tích cực vận động nhân dân lao động sản xuất, xây dựng hợp tác xã, tham gia dân quân tự vệ, góp phần xây dựng hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Gia đình mẹ có bảy người con trai. Trong số đó, hai người con đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.
Người con trai cả, Nguyễn Văn Nghìn, nhập ngũ năm 1967. Trên đường hành quân vào chiến trường miền Nam, mỗi lần dừng chân nghỉ lại, anh đều tranh thủ viết thư gửi về quê để mẹ yên lòng. Lá thư gửi từ Nghệ An là những dòng cuối cùng gia đình nhận được. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, anh đã anh dũng hy sinh trên chiến trường.
Nỗi đau ấy chưa kịp nguôi ngoai thì người con trai thứ hai, Nguyễn Trọng Tải, tiếp bước anh lên đường nhập ngũ năm 1972. Là chiến sĩ trinh sát của Quân khu 5, anh tham gia nhiều trận chiến ác liệt. Khi chiến tranh kết thúc, trong lúc cả nước hân hoan đón ngày hòa bình, mẹ vẫn thấp thỏm mong tin con đang làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Đầu năm 1979, giấy báo tử được gửi về, khép lại niềm hy vọng mong manh của người mẹ già.
Hai lần nhận giấy báo tử là hai lần trái tim người mẹ như vỡ vụn. Thế nhưng, cũng như bao Bà mẹ Việt Nam anh hùng khác, mẹ Nguyễn Thị Bầu không gục ngã trước mất mát. Mỗi lần nhắc đến các con, ánh mắt mẹ vẫn ánh lên niềm tự hào bởi các anh đã sống và hy sinh trọn vẹn cho Tổ quốc.
Chiến tranh lùi xa, mẹ trở về với cuộc sống đời thường trong vòng tay con cháu. Dẫu tuổi cao, ký ức không còn vẹn nguyên như trước, nhưng sự tảo tần, đôn hậu và tinh thần cách mạng vẫn luôn hiện hữu trong từng lời dặn dò con cháu phải sống tử tế, lao động chân chính và tiếp nối truyền thống yêu nước của gia đình.
Nhiều năm qua, các cơ quan, đơn vị và chính quyền địa phương thường xuyên quan tâm, phụng dưỡng mẹ. Gia đình mẹ tiếp tục là điểm sáng trong phong trào xây dựng nông thôn mới và bảo vệ an ninh Tổ quốc. Nhiều người cháu của mẹ đã tiếp bước truyền thống gia đình, lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự, góp sức xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời bình.
Cuộc đời của Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Bầu là biểu tượng đẹp về sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam. Từ người dân công hỏa tuyến trên chiến trường Điện Biên đến người mẹ hai lần tiễn con vào cõi bất tử, mẹ đã dành trọn tuổi thanh xuân và cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc. Những hy sinh ấy sẽ mãi được các thế hệ hôm nay và mai sau trân trọng, ghi nhớ như một phần thiêng liêng của lịch sử dân tộc Việt Nam.



