Bài viết

BÀI VIẾT VỀ ANH HÙNG NGUYỄN THANH TÙNG

Tây Ninh15/05/2026Trần Thiên Phúc (Trường TH Nguyễn Du)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng Nguyễn Thanh Tùng sinh năm 1933, dân tộc Kinh, quê ở xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá, chỉ huy phó Đoàn đặc công 429, Quân khu 7. Từ năm 1961 đến tháng 4 năm 1975, Nguyễn Thanh Tùng liên tục chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị diệt hàng ngàn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh khác.

Đặc biệt, đêm 11 rạng sáng 12 tháng 5 năm 1969, Nguyễn Thanh Tùng trực tiếp chỉ huy 1 tiểu đoàn đặc công tiến công mãnh liệt căn cứ Tếch-ních, diệt và làm bị thương 800 tên Mỹ, 2 sở chỉ huy lữ đoàn, phá hủy, phá hỏng 22 khẩu pháo, 96 xe quân sự (có 43 xe tăng), 8 kho vũ khí, quân trang, quân dụng.

Chưa đầy một tháng sau đó. Đêm mồng 5 rạng sáng ngày 6-6-1969 Nguyễn Thanh Tùng lại chỉ huy đơn vị đánh căn cứ Tếch-ních lần thứ hai, diệt và làm bị thương 500 tên Mỹ, phá hủy 10 máy bay, 6 khẩu pháo, 41 xe quân sự (có 21 xe tăng), 35 lô cốt, 92 nhà lính, hơn 100 hầm ngầm, 3 kho đạn.

Tháng 11 năm 1971, đồng chí chỉ huy 2 tiểu đoàn đặc công đánh thiệt hại nặng căn cứ Trảng Lớn do 1 trung đoàn địch đóng giữ. Năm 1972, Nguyễn Thanh Tùng chỉ huy đơn vị đánh 3 trận xuất sắc, thu nhiều hiệu quả: diệt 240 tên địch, phá hủy 6 khu thông tin tại trận đánh căn cứ Bà Dơn; trận đánh tổng kho Long Bình, đốt cháy và phá hủy 15.000 tấn bom, đạn; trận đánh sân bay Biên Hòa, phá hủy 90 máy bay.

Trong Tổng tiến công, nổi dậy mùa Xuân 1975, Nguyễn Thanh Tùng chỉ huy đơn vị đánh chiếm căn cứ ra-đa Phú Lâm và chi khu Tân Trào hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đồng chí được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng, 3 lần là Dũng sĩ. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Nguyễn Thanh Tùng được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

​HÀNH TRÌNH CỦA NGƯỜI ANH HÙNG.

Cũng như những bạn bè trang lứa khác, Nguyễn Thanh Tùng lớn lên trong cảnh nước mất, dân lầm than nô lệ. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo thuộc ấp Bàu Sen, xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Những người dân nơi đây luôn hướng tấm lòng son sắt thủy chung về cách mạng và Bác Hồ dù bị địch đàn áp khốc liệt.

Có một sự kiện ghi dấu ấn đậm nét suốt cuộc hành trình chiến đấu và công tác của Tùng mà suốt đời anh không thể nào quên. Đó là vào ngày 19 tháng 5 năm 1947, tại ấp Cây Trường, xã Hảo Đước. Nhân dân dựng lên một sân lễ rồi huy động tới vài ngàn người về dự mừng ngày sinh nhật Cụ Hồ Chí Minh. Trên khán đài có một chú cán bộ còn khá trẻ, người tầm thước, mặt hiền khô trong bộ đồ bà ba đen quen thuộc đứng lên diễn thuyết:

Cô bác có biết Cụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là ai không?

Trong lúc chưa ai lên tiếng thì chính ông tươi cười giải thích:

– Thưa cô bác, Cụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là người con yêu quý của nước Việt Nam ta, nhà chí sĩ yêu nước, hơn ba chục năm ròng rã xuất dương để tìm đường cứu nước, cứu dân khỏi lầm than nô lệ. Cụ chính là người thay mặt quốc dân đồng bào đọc bản tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình – Hà Nội. Người chính là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của chúng ta.

Ông vừa nói tới đây cả ngàn người đồng thanh hô lớn:

– Hoan hô Cụ Hồ. Hồ Chí Minh muôn năm, muôn muôn năm!... Tiếng hô kéo dài như sấm dậy.

Lần đầu tiên tại quê nhà chàng trai vừa ngoài tuổi trăng tròn, có khuôn mặt hiền dịu như con gái của Tùng được chứng kiến một cuộc mít tinh lớn như vậy. Mãi sau này anh mới hay người diễn thuyết đầy sức hấp dẫn ấy chính là đồng chí Hoàng Lệ Kha – Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh, bị kẻ thù sát hại theo luật 10/59 dưới chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm. Sự hy sinh của ông là hình ảnh sáng đẹp của người chiến sĩ cộng sản.

Từ cuộc diễn thuyết ấy, mọi người dân từ vùng đất quê anh xa xôi mới có dịp hiểu thêm về Bác Hồ, về cách mạng, càng thắp sáng niềm tin vào tương lai đất nước, quyết không lùi bước trước mọi cuồng bạo của kẻ thù.

Ít lâu sau, ngày 4 tháng 4 năm 1948 từ vùng đất nghèo khổ mà lòng dân nhân hậu thủy chung này, Tùng ra đi kháng chiến ở tuổi mười bảy. Nhà nghèo lắm, có những tám anh em, Tùng là con cả của gia đình nên sắp nhỏ thường kêu một cách cung kính là anh Hai. Ông bà già thân mật lại xưng là Cậu Hai. Nhưng từ khi ở miền Bắc trở về Nam chiến đấu, anh em cứ gọi là Chín thành quen. Có người đoán chắc là theo thứ của vợ chăng?

Không phải vậy. Hồi ấy anh chưa hề có hình bóng của một thiếu nữ nói chi tới vợ con, mặc dầu ở độ tuổi đáng ra phải có một tổ ấm uyên ương hạnh phúc. Song, quê hương còn bóng giặc anh đành gác lại mọi chuyện riêng tư vậy. Gần đây tôi có dịp hỏi lại chuyện này, anh cười vui mà rằng:

– Tầm tháng 12 năm 1962, đại đội 21 trinh sát về hoạt động ở ấp 3, xã Long Nguyên, Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Lúc ấy mình làm phó chính trị viên phó đại đội, thường hay tiếp xúc với dân và các đoàn thể bàn bạc công tác, gây dựng phong trào. Thấy mình vui nhộn xông xáo nhưng chưa biết tên, một số nữ thanh niên dò hỏi anh em đơn vị: anh ấy tên gì để tụi em biết mà kêu cho tiện? Mấy anh láu cá nào đó chỉ đại: các em cứ kêu anh Chính là được rồi! Xin nhắc lại: Chính chớ không phải là Chín. Nghĩa là chính hiệu chưa có vợ con gì ráo, các em cứ mạnh dạn mà tấn công. Đích thực hơn, sau khi làm việc, các chị hỏi: Xin lỗi, anh thứ mấy để mỗi khi ở trong ấp chiến lược có tình hình gì cần cung cấp, bọn em biết mà quan hệ cho tiện? Hồi ấy nhân dân đều bị địch dồn vô ấp chiến lược, chỉ một số cán bộ cốt cán vào ra hoạt động bắt mối. Mình nói: tôi tên Tùng, cứ thế mà kêu, tên cúng cơm đó. Song các chị lại đề xuất: cứ gọi anh Chính lực lượng là ổn – nghĩa là bộ đội chủ lực ấy mà. Thế rồi từ các cô gái tinh nghịch lan ra và mọi người cứ kêu lệch ra thành Chín – thứ chín trong gia đình. Kêu riết thành quen cho tới giờ luôn. Nhiều khi nghĩ lại cũng thấy vui vui, chiếm mất cả ngôi vị anh Hai tự lúc nào.

Là anh cả trong gia đình, các em sau còn nhỏ, nên Tùng sớm phải lao động giúp đỡ cha mẹ một số việc như làm cỏ, bón phân, đôi khi còn cày ruộng, đập lúa giữa trời nắng chang chang... Cũng vì thế, ý thức lao động và tính cần cù chịu khó sớm hình thành ở chàng trai mới lớn này.

Vài ngày trước khi lên đường tham gia kháng chiến, má Tùng – khi ấy đang mang bầu đứa em thứ tám, kín đáo đưa ra chợ bán mấy giạ lúa. Bán lúa mà cũng “kín đáo” ư! Vâng, vì má dè chừng cậu không đồng tình. Nhà nghèo, lại đông người, bán lúa rồi lấy gì mà ăn. Nhưng khi hay thì sự việc đã rồi.

Bán lúa mà cũng chỉ đủ tiền mua được một tấm áo vải đen dài tay, và một chiếc khăn rằn, không thể gắng thêm được chiếc quần cộc cho đủ bộ. Má nói trong nước mắt:

– Con lên đường mạnh giỏi, ráng công tác tốt để bằng anh em. Đừng lo nghĩ về gia đình. Tấm khăn này dùng khi tắm và thay chăn đắp lúc ngủ rừng cho đỡ muỗi mòng. Ráng nghe cưng, khi nước nhà độc lập, con trở về với ba má, với các em...

Má còn dặn:

– Con không được nghiện ngập gì cho cực nghe hông...

Đoạn sau tiếng má rưng rưng, nghèn nghẹn. Dường như má còn nói thêm đôi điều gì nữa mà Tùng không còn nghe rõ, cổ như nghẹn lại nhưng cố giấu những giọt nước mắt nóng hổi tràn mi. Còn ông Nguyễn Văn Sách, cha đẻ của Tùng – cứng rắn hơn, nhắc nhở:

– Trai nam nhi bước đi cho vững, như thế mới xứng là trai đó con!

Mỗi lần đọc bài thơ này Tùng không cầm được nước mắt. Bởi bài thơ ra đời vào thời điểm Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập, (ngày 20 tháng 12 năm 1960), kêu gọi con em miền Nam tập kết ra Bắc trở về quê hương chiến đấu…/

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
BÀI VIẾT VỀ ANH HÙNG NGUYỄN THANH TÙNG | Câu chuyện thời hoa lửa