Ban dân quân có 5 anh hùng
Cựu chiến binh Hồ Đắc Dưỡng hiện ở 126 Nguyễn Tri Phương, Đà Nẵng là người gắn bó cả cuộc đời binh nghiệp với công tác dân quân tự vệ khi ở Mặt trận 4 Quảng Đà và sau này về Bộ CHQS tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng (cũ). Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng ký ức của ông về những năm tháng ấy, đặc biệt là chuyện Ban Dân quân Tỉnh đội có đến 5 Anh hùng LLVT nhân dân vẫn luôn sống động.
KHI CÁC TRỢ LÝ RA TRẬN
Quê ở Hòa Xuân, Hòa Vang (Đà Nẵng), ông Hồ Đắc Dưỡng đi bộ đội từ năm 1965. Từ đại đội độc lập của huyện rồi được đưa lên làm trợ lý dân quân trong Mặt trận 4 Quảng Đà, ông không ngờ mình gắn bó với dân quân hàng chục năm sau đó. Trợ lý dân quân ngày đó rất đông, có lúc lên đến 40 người. Trưởng ban nằm trong Thường vụ Đặc khu ủy. Cán bộ dân quân theo mọi hướng dẫn đường cho chủ lực đánh địch hoặc về phát động phong trào du kích ở các huyện, xã. Thời kỳ sau Mậu Thân 1968, địch phản công ác liệt, gom dân, lập các vùng trắng, nhằm cắt đường tiếp tế của Việt Cộng. Hội nghị về dân quân du kích đang tiến hành khẩn ở Tây Giang (Quảng Nam) giữa Đặc khu ủy, Mặt trận 4 với các bí thư huyện ủy thì địch ném bom. Tất cả nhanh chóng xuống hầm sát đó nên không bị thiệt hại. Cũng chính tại hội nghị này, Đặc khu ủy 5 và Bộ tư lệnh Mặt trận 4 phát động phong trào quần chúng trong khu dồn diệt tề, phá ấp, đưa thanh niên “nhảy núi”. Trách nhiệm nặng nề đặt lên vai toàn Mặt trận trong đó có Ban Dân quân. Thượng tá Hồ Đắc Dưỡng kể: “Chúng tôi chia về các khu dồn ở Thanh Vinh, Hòa Quý, Hòa Hải (Đà Nẵng), các huyện: Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn, Hội An. Ban ngày ở hầm bí mật, ban đêm chui vào các khu dồn bắt liên lạc với thanh niên, phụ nữ nòng cốt, từ đó lực lượng này tiếp tục len lỏi, tuyên truyền trong nhân dân vùng lên phá ấp, diệt tề ngụy hoặc phối hợp với bộ đội địa phương giải phóng hàng trăm khu dồn. Nhiều thanh niên thoát khỏi kìm kẹp được Ban Dân quân phối hợp với các lực lượng bí mật đưa vào các chùa chiền, có đợt còn đưa cả vào tháp Mỹ Sơn huấn luyện, sau đó bổ sung vào các đơn vị chủ lực”.
CCB Hồ Đắc Dưỡng với gian hàng tạp hóa tại nhà. Ông Dưỡng xúc động khi nhớ về 18 đồng đội của mình trong Ban Dân quân Mặt trận 4 đã hy sinh. Có lần cả đoàn 5 người xuống Duy Hòa (Duy Xuyên, Quảng Nam) cùng du kích chống càn thì bị địch bắn pháo. Đồng chí Nguyễn Thanh Sơn hy sinh, được ông Dưỡng cùng nhân dân chôn cất trên nỗng cao. Sau ngày giải phóng, thi hài liệt sĩ Sơn mới được gia đình cất bốc. Bản thân ông Dưỡng trong một lần về vận động phong trào du kích ở xã Hòa Quý đã bị phục kích. Địch bắn ông bị thương vào bụng, bất tỉnh. Ông được du kích đi tìm và băng bó, đưa xuống hầm bí mật giữa đồng ruộng. Suốt một tháng ở đây chờ đưa ra khỏi “nanh vuốt” của địch, ông gần như kiệt sức. Không thể để lâu hơn nữa, bộ đội Hòa Vang đã cùng với du kích địa phương cáng ông đi suốt đêm ròng để về vùng giáp ranh Hòa Tiến và gấp rút chuyển đến bệnh xá mổ lấy đạn ra khỏi cơ thể.
ANH HÙNG LÀM DÂN QUÂN
Kỷ niệm nhớ nhất của ông Dưỡng là sau năm 1975, Ban Dân quân Tỉnh đội Quảng Nam-Đà Nẵng có đến 5 trợ lý là Anh hùng LLVT nhân dân. Họ đều là những người nổi tiếng trong đánh Mỹ và đa số trưởng thành từ du kích. Đó là các anh hùng: Phan Hành Sơn, Phan Công Kháng, Trương Văn Hòa, Lê Đình Trung và Hồ Thị Lý. Giải thích vì sao ban lại có nhiều trợ lý là anh hùng đến như vậy, ông Dưỡng cho biết: “Sau giải phóng, toàn tỉnh phải tập trung lực lượng chống đói, tháo gỡ bom mìn còn sót lại, làm thủy lợi lấy nước tưới lúa…, nên việc xây dựng lực lượng dân quân rất nan giải. Các anh hùng với uy tín của mình dễ dàng vận động thanh niên vào dân quân. Mặt khác, với khả năng bắn giỏi, ném lựu đạn “siêu”, các anh hùng dễ dàng huấn luyện cho mọi đối tượng ở các xã, phường. Tỷ lệ dân quân lúc đó so với dân số lên đến 15%. Mỗi phường đều có một trung đội và xã có một đại đội. Đây chính là lực lượng nòng cốt bổ sung cho quân đội, đặc biệt khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra và làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia”. Dân quân không có chế độ chính sách nào mà chủ yếu bằng trách nhiệm và tinh thần tự giác. Năm 1982, khi là Trưởng ban Dân quân của Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng, ông Dưỡng đã “khăn gói” ra Bộ Quốc phòng báo cáo về tình hình hoạt động của dân quân và đề nghị phải có kinh phí cho lực lượng này hoạt động, không thể “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” mãi được.
Về hưu năm 1996 trên cương vị Phó tham mưu trưởng Tỉnh đội nhưng ông Dưỡng vẫn dành hết tâm huyết cho công tác dân quân. Ông tham mưu cho Ban liên lạc truyền thống, Tỉnh đội Quảng Nam-Đà Nẵng (cũ) và Đà Nẵng sau này, tổ chức nhiều lần gặp mặt cán bộ dân quân các thế hệ trước và sau chiến tranh mà ông tính đến hàng trăm người. Với công việc hằng ngày phụ vợ bán tạp hóa tại nhà, ông vẫn luôn dành thời gian thăm đồng đội cũ và giúp đỡ họ trong khả năng của mình với niềm vui của người trọn đời gắn bó với “nghiệp” dân quân.



