Bản Giao Hưởng Của Lửa Và Thép: Huyền Thoại Vị Tướng "Hai Mạnh" Và Đỉnh Cao Nghệ Thuật Cầm Quân
Bài viết là một thước phim quay chậm, tái hiện lại quỹ đạo chói lọi của Đại tướng Chu Huy Mân – một người con ưu tú của xứ Nghệ đã hóa thân thành lưỡi gươm bảo quốc. Mang trong mình sự kết hợp hài hòa tuyệt mỹ giữa nhãn quan chính trị uyên bác và tư duy quân sự sắc sảo, Ông đã đi dọc theo chiều dài của ba cuộc chiến tranh vệ quốc. Từ khói lửa Điện Biên đến những chảo lửa ngút ngàn ở Tây Nguyên và Khu 5, vị tướng "Hai Mạnh" ấy đã để lại cho hậu thế một pho tượng đài sừng sững về nghệ thuật chiến
Sinh ra từ dải đất miền Trung khô cằn nhưng quật khởi, nơi những cơn gió Lào rèn giũa nên cốt cách can trường của con người xứ Nghệ, chàng thanh niên Chu Huy Mân đã sớm chọn cho mình một con đường nhuốm màu máu và lửa: Con đường Cách mạng. Giác ngộ lý tưởng từ những năm 1929, Ông bước vào hàng ngũ vũ trang như một lẽ tất yếu của định mệnh. Để rồi từ đó, dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử đã chứng kiến sự khai sinh của một vì sao rực rỡ, một nhà thao lược vĩ đại vắt ngang hai thế kỷ.
Nhát Kiếm Sắc Lẹm Chém Thủng Phòng Tuyến Thực Dân
Cách mạng Tháng Tám vừa bừng sáng, bóng đen thực dân Pháp lại một lần nữa phủ xuống non sông. Giữa lúc giang sơn ngửa nghiêng, Đảng đã tung những "quân bài" ưu tú nhất của mình vào quân đội, và Chu Huy Mân là một trong số đó. Cuối thu năm 1946, khi tiếng súng toàn quốc kháng chiến rền vang, gót giày của Ông đã in dấu trên những nẻo đường Việt Bắc hiểm nghèo.
Tố chất chỉ huy trong Ông bộc lộ rực rỡ qua từng chức vụ: từ Trung đoàn trưởng các trung đoàn 72, 74, 174 thiện chiến vây hãm Cao - Bắc - Lạng, cho đến chức danh Chính ủy Đại đoàn 316. Với sự am tường sâu sắc về địa hình và tâm lý chiến sỹ, Ông đã cùng Ban chỉ huy Đại đoàn 316 biến những đạo quân nông dân thành những cỗ xe tăng không bọc thép. Từ Chiến dịch Tây Bắc (1952) đến Thượng Lào (1953), Đại đoàn 316 như mũi khoan thép xuyên thủng mọi hàng rào phòng ngự. Đỉnh điểm là vào mùa xuân năm 1954, dưới sự thống lĩnh của Ông, cánh quân hướng Đông đã dội những đòn sấm sét vào cụm cứ điểm Điện Biên Phủ, nghiền nát niềm kiêu hãnh của quân viễn chinh Pháp, ép chúng phải cúi đầu ký vào Hiệp định Geneva lịch sử.
"Nắm Thắt Lưng Địch Mà Đánh" Và Nghệ Thuật Chiến Tranh Vùng Lửa Khu 5
Kháng chiến chống Mỹ bùng nổ, đất nước bị chia cắt, Chu Huy Mân lại khoác ba lô tiến về miền Nam. Trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận B3 Tây Nguyên rồi Khu 5, thiên tài quân sự của Ông đã phát tiết đến mức tận cùng. Trước bộ máy chiến tranh khổng lồ của đế quốc, Ông không chọn cách lùi bước phòng ngự. Ngược lại, tư duy chiến lược của Ông sắc lẹm: Phải tác chiến tập trung quy mô thích hợp, đánh tiêu diệt gọn từng đơn vị thay vì đánh tiêu hao dàn trải.
Đó là một vị tướng dạn dày sương gió, trước mỗi trận đánh đều xuống tận chiến hào, mài tư tưởng cho quân sĩ bằng câu nói rúng động tâm can: "Ta đánh để lấy miếng tuyệt đối không đánh để lấy tiếng, đánh thắng mà bộ đội thương vong cao, ta nghĩ gì về xương máu bộ đội". Trong mắt Ông, máu của người lính là vô giá, mọi chiến thuật dù mưu trí đến đâu cũng phải phục vụ mục tiêu tối thượng: Thắng lợi lớn nhất với hy sinh nhỏ nhất.
Dưới tài "cầm trịch" của Ông, nghệ thuật chiến tranh nhân dân ở Khu 5 vươn tới đỉnh cao rực rỡ với thế trận "hai chân, ba mũi giáp công". Ông tung ra những đòn hiểm hóc như "vây điểm, diệt viện, nghi binh, lừa địch". Điển hình như trận Plei Me (1965), Ông tung mưu dụ địch vào tử địa, phát động chiến thuật "nắm thắt lưng địch mà đánh" để tước đi sức mạnh hỏa lực pháo binh và không quân của Mỹ. Khu 5 dưới thời Ông tự hào "đi đầu diệt Mỹ" với những trận đánh đi vào huyền thoại như Núi Thành, Vạn Tường, Ba Gia, Sa Thầy, cho đến những chiến công cuộn trào trong Đại thắng Mùa Xuân 1975 giải phóng Huế - Đà Nẵng, đập tan chính quyền Sài Gòn.
Tầm Vóc Của Vị Tướng "Hai Mạnh" Giữa Thời Đại Mới
Đất nước quy về một mối, nhưng khói súng vẫn chưa mờ phai trên biên giới. Tướng Chu Huy Mân tiếp tục gánh vác non sông trên những cương vị chóp bu: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Vượt ra khỏi hình bóng của một vị tướng cầm quân trên mặt trận, Ông thể hiện sự vĩ đại của một nhà tư tưởng chính trị sắc sảo.
Sinh thời, Bác Hồ đã gọi Ông là Tướng "Hai Mạnh" – mạnh cả về quân sự lẫn chính trị. Quả đúng như vậy, từ năm 1976 đến 1986, Ông đã đề xuất vô số quyết sách mang tầm chiến lược để xây dựng quân đội "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại". Nhận diện rõ những hiểm họa từ trong nội bộ, Ông chỉ đạo sát sao các nghị quyết về chỉnh đốn Đảng trong quân đội, mạnh tay trừ dẹp tệ quan liêu, độc đoán, giữ cho thanh gươm của Đảng luôn sáng ngời. Những tư tưởng ấy không chỉ giúp Việt Nam đứng vững qua hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc, mà còn định hình diện mạo Quân đội Nhân dân Việt Nam hùng mạnh cho đến tận ngày nay.
Khép lại 93 năm trần thế với 76 năm tuổi Đảng, Đại tướng Chu Huy Mân đã hiến dâng trọn vẹn cả một kiếp người cho sự trường tồn của dân tộc. Đúng như lời cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đúc kết, Ông là "một tướng lĩnh xuất sắc, chính trị, quân sự song toàn... là một tấm gương sáng cho toàn quân, toàn dân ta học tập". Tấm Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh lấp lánh trên ngực áo Ông là sự ghi nhận của Tổ quốc, nhưng tấm huân chương cao quý nhất vĩnh viễn là hình bóng sừng sững của vị tướng "Hai Mạnh" được tạc bằng lửa, thép và lòng nhân ái trong tâm khảm của hàng triệu người con đất Việt.



