Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Bản Giao Hưởng Hòa Bình Trên Bàn Đàm Phán: Hội Nghị Paris (1968–1972)

Tác giả: Nguyễn Thị Hải Yến

Phú Thọ22/08/2026phường Bắc An Phụ (phường Bắc An Phụ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam, chiến thắng không chỉ được định đoạt bởi tiếng súng gầm vang nơi chiến trường, mà còn được mài giũa sắc bén trên mặt trận ngoại giao đầy cam go, trí tuệ. Nếu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một bản anh hùng ca trường chinh, thì Hội nghị Paris (1968–1972) chính là chương khốc liệt nhưng vô cùng kiêu hãnh của "cuộc chiến không tiếng súng". Gần 5 năm đấu trí căng thẳng, qua 201 phiên họp công khai và hàng chục cuộc gặp bí mật, bàn đàm phán Paris đã trở thành nơi kết tinh của ý chí độc lập, tự chủ và tài thao lược ngoại giao xuất chúng của ngoại giao Việt Nam.
Lịch sử thế giới từng chứng kiến nhiều cuộc xung đột song hành giữa "vừa đánh, vừa đàm", từ thời Napoleon cho đến các cuộc kháng chiến của dân tộc ta dưới thời nhà Trần hay triều đại nhà Lê. Nhưng đến năm 1968, sau cú giáng sấm sét của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, cục diện chiến tranh đã bước sang một bước ngoặt hoàn toàn mới. Buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán là thắng lợi mang tính chiến lược, mở ra một mặt trận mới – nơi ngoại giao phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ với quân sự và chính trị.
Đúng như quan điểm của Đảng ta được đúc kết: "Chúng ta chỉ có thể giành được thắng lợi trên bàn đàm phán những gì mà chúng ta giành được trên chiến trường." Mặt trận Paris không hoạt động độc lập mà là sự phản chiếu và khuếch đại sức mạnh từ chiến trường miền Nam. Sự gắn kết nhuần nhuyễn ấy được thể hiện rõ nét qua sách lược ngoại giao sắc bén "tuy hai mà một, tuy một mà hai" của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Mỗi bước tiến quân sự từ những đòn chí mạng trên chiến trường đến thất bại của chiến dịch Lam Sơn 719 hay sự phá sản của các cuộc tập kích chiến lược đều trực tiếp làm lung lay ý chí của đối phương, thu hẹp khoảng cách bất đồng trên bàn hội nghị.

Chặng đường đi đến Hiệp định Paris là một chuỗi những tháng ngày đấu trí nghẹt thở. Phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn ban đầu tìm mọi cách trì hoãn, thiếu thiện chí, thậm chí leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc. Thế nhưng, bằng sự kiên định, bản lĩnh vững vàng và tư duy sắc sảo của những nhà đàm phán lỗi lạc như cố vấn Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy, ta đã từng bước bẻ gãy các mưu đồ của đối phương. Đặc biệt, bước ngoặt năm 1972 với những cuộc gặp riêng mang tính bước ngoặt giữa Lê Đức Thọ và Henry Kissinger đã buộc phía Mỹ phải nhượng bộ. Bản dự thảo tháng 10 năm 1972 và sau đó là áp lực từ chiến thắng lịch sử "Điện Biên Phủ trên không" cùng chiến dịch Linebacker II đã đập tan hoàn toàn ý đồ lật lọng của Nixon, buộc Tổng thống Mỹ phải ký kết thỏa thuận.
Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam chính thức được ký kết. Đây là cột mốc vĩ đại đánh dấu thắng lợi của ngoại giao Việt Nam: buộc đế quốc Mỹ phải rút hết quân về nước, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tạo ra "thời cơ vàng" để quân và dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa xuân năm 1975.
Hội nghị Paris không chỉ chấm dứt cuộc chiến tranh dài ngày nhất trong lịch sử hiện đại của Mỹ mà còn là minh chứng hùng hồn cho chân lý sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Trải qua gần nửa thế kỷ, dấu ấn của mặt trận ngoại giao Paris vẫn mãi là bài học kinh điển về nghệ thuật bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, là niềm tự hào lớn lao về bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn