BẢN HỢP XƯỚNG CỦA 17 PALEI CỔ – HỒN CỐT VĂN HÓA VÀ KHÁT VỌNG VƯƠN MÌNH CỦA ĐỒNG BÀO CHĂM NINH PHƯỚC NĂM 2000 DƯỚI GÓC NHÌN ĐỒNG CHÍ TRẦN THANH SƠN
Trong ký ức của người lính, người cán bộ cách mạng Trần Thanh Sơn, đi qua những năm tháng bom cày đạn xới thời chống Mỹ, rồi bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế tại chiến trường K, bước chân tôi đã in dấu trên biết bao miền đất. Nhưng mỗi lần trở về đứng giữa vùng đất Ninh Phước quê nhà, lắng nghe tiếng kèn Saranai réo rắt bên chân tháp cổ, ngắm nhìn những mái nhà ngói đỏ san sát trong các palei Chăm, lòng tôi lại dâng trào một niềm tự hào khó tả.
Đồng bào Chăm ở Ninh Phước không sống phân tán mà tụ họp lâu đời thành một quần thể gắn kết chặt chẽ trên địa bàn 7 xã và thị trấn Phước Dân. 17 làng người Chăm trên đất Ninh Phước chính là 17 bông hoa ngát hương, vừa mang trong mình chiều sâu di sản hàng ngàn năm, vừa là những căn cứ lòng dân kiên cường qua hai cuộc kháng chiến và hôm nay đang vươn mình trở thành điểm sáng kinh tế, văn hóa của toàn huyện.
1. Bàu Trúc, Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ: Ngọn lửa làng nghề rực sáng giữa dòng đời mới
Nhắc đến 17 palei Chăm của Ninh Phước, điểm nhấn nổi bật nhất trên bản đồ kinh tế – văn hóa huyện nhà chính là cụm làng nghề truyền thống nằm kề bên thị trấn Phước Dân:
Làng gốm Bàu Trúc (Paley Hamu Craok):
Nằm nép mình bên quốc lộ, Bàu Trúc được mệnh danh là một trong những làng gốm cổ xưa nhất Đông Nam Á còn tồn tại nguyên vẹn phương thức chế tác sơ khai.
Người phụ nữ Chăm nơi đây không dùng bàn xoay cơ học; họ đi giật lùi quanh khối đất sét lấy từ triền sông Quao, dùng đôi bàn tay khéo léo và chiếc vòng tre mỏng để vuốt nên những chiếc lu, chum, ấm đất tuyệt mỹ. Gốm nung lộ thiên bằng củi và rơm rạ, mang màu khói lửa tự nhiên của đất trời duyên hải.
Đến năm 2000, vượt qua cơn lốc đào thải của đồ nhựa, đồ nhôm công nghiệp, làng Bàu Trúc đã có 164 hộ gia đình bám trụ và phát triển nghề. Đồ gốm Bàu Trúc không còn đơn thuần là vật dụng đun nấu nghèo khó xưa kia mà đã chuyển mình thành gốm mỹ nghệ, tượng trang trí vươn ra các khách sạn, khu nghỉ dưỡng lớn trong cả nước.
Làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp (Paley Caflang) & Chung Mỹ:
Cách Bàu Trúc không xa, tiếng lách cách của thoi đưa trên khung cửi gỗ đã vang vọng suốt hàng trăm năm qua ở Mỹ Nghiệp và Chung Mỹ.
Dưới bàn tay tài hoa của các nghệ nhân, từng sợi chỉ nhuộm màu vỏ cây, củ nâu biến thành những tấm thổ cẩm rực rỡ mang họa tiết mắt chim công, vân mây, hoa văn thần thoại.
Đến năm 2000, toàn vùng duy trì vững chắc 98 hộ sản xuất dệt thổ cẩm. Sản phẩm làm ra vừa phục vụ nghi lễ tôn giáo buôn làng, vừa trở thành mặt hàng lưu niệm quý giá cho du khách thập phương, đem lại nguồn thu tiền tỷ cho người dân xã viên.
2. Dải palei kiên trung: Từ căn cứ kháng chiến đến làng quê trù phú
Rời thị trấn Phước Dân, tỏa về các xã đồng bằng và ven chân núi Hòn Thông, hệ thống các palei Chăm truyền thống hiện lên với những nét đặc trưng văn hóa và lịch sử riêng biệt:
Hữu Đức – Trung tâm văn hóa tâm linh Bàlamôn:
Palei Hữu Đức (xã Phước Hữu) từ lâu đã là trái tim văn hóa của đồng bào Chăm Bàlamôn. Nơi đây sở hữu đội ngũ trí thức, các vị Cả Sư đức cao vọng trọng và những đội văn nghệ dân gian cừ khôi. Mỗi mùa Katê về, Hữu Đức rộn rã trong sắc áo lễ hội, là nơi lưu giữ những bản kinh cổ, những điệu múa quạt làm say đắm lòng người.
Hậu Sanh – Pháo đài dưới chân tháp PôRôMê:
Tựa lưng vào sườn đồi tháp cổ PôRôMê linh thiêng, Hậu Sanh không chỉ là mảnh đất di sản mà còn là một địa chỉ đỏ cách mạng kiên cường.
Đây là nơi du kích ta từng bám trụ đánh bật các cuộc càn quét của quân ngụy, là nơi đồng bào quật khởi phá banh ấp chiến lược ngày 02/4/1975 và giăng bẫy bắt sống hơn 300 tên phản động Fulrô ngày 16/4/1975. Bước vào thời bình, Hậu Sanh là lá cờ đầu trong thâm canh lúa hai vụ và giữ gìn di tích lịch sử quốc gia.
Văn Lâm – Chiếc nôi Chăm Bàni và tinh thần hiếu học:
Nằm bên nhánh sông xanh mát, Văn Lâm (xã Phước Nam) là palei lớn nhất của cộng đồng Chăm Bàni.
Nơi đây nổi tiếng với những thánh đường Hồi giáo Bàni tôn nghiêm, với Tết Ramưwan thanh tịnh và lễ tảo mộ trang trọng trên cồn cát trắng. Văn Lâm còn là vùng đất nổi danh về tinh thần hiếu học, là palei đi đầu trong phong trào lập quỹ khuyến học tộc họ, nuôi dưỡng hàng trăm người con ưu tú đỗ đạt kỹ sư, bác sĩ, cử nhân.
Tuấn Tú, Thành Tín, Hiếu Lễ, Bầu Ngứ, Phước Đồng, Phú Nhuận...:
Mỗi ngôi làng đều mang một dấu ấn kiên cường: Tuấn Tú, Thành Tín vững vàng trên cồn cát ven biển, tiên phong chắn cát, trồng trọt và làm kinh tế biển; Hiếu Lễ, Bầu Ngứ gắn bó với nghề trồng trọt và chăn nuôi đại gia súc; Phước Đồng anh dũng trong bão táp giải phóng tháng 4/1975 nay trù phú với những vườn màu xanh mướt.
Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA BẤT TỬ
Nhìn lại mạng lưới 17 làng Chăm trên quê hương Ninh Phước vào năm 2000, người cán bộ cách mạng Trần Thanh Sơn luôn khẳng định:
Đó là bức tranh hoàn mỹ về sự hòa hợp dân tộc và sức sống bền bỉ của văn hóa ngàn đời:
Cội nguồn sức mạnh đại đoàn kết: 17 palei Chăm sống đan xen, gắn bó ruột thịt với các thôn làng người Kinh suốt chiều dài lịch sử. Máu của đồng bào Kinh – Chăm cùng đổ xuống trong kháng chiến; mồ hôi của hai dân tộc cùng hòa vào dòng kênh Nam, kênh Chàm để tưới mát ruộng đồng; và đến năm 2000, cả hai dân tộc cùng nắm tay nhau xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa. Không một thế lực nào có thể chia rẽ được khối đại đoàn kết thiêng liêng ấy.
Khẳng định bản sắc Việt Nam đa dạng, thống nhất: Sự tồn tại và phát triển rực rỡ của 164 hộ gốm Bàu Trúc, 98 hộ dệt Mỹ Nghiệp cùng không gian lễ hội tại Hữu Đức, Hậu Sanh, Văn Lâm... vào năm 2000 đã chứng minh hùng hồn: Đảng và Nhà nước ta luôn trân trọng, nâng niu bản sắc của từng dân tộc anh em. Bản sắc ấy không hề bị mai một trước ngọn gió công nghiệp hóa, mà trái lại, đã trở thành tài sản vô giá, niềm tự hào to lớn của quê hương Ninh Phước bước vào thế kỷ mới.


