Anh hùng Lực lượng vũ trang

BẢN HÙNG CA GIỮA BẦU TRỜI LỬA VÀ NGƯỜI CHÍNH ỦY TÀI BA: CHUYỆN VỀ TRUNG TƯỚNG NGUYỄN XUÂN MẬU

Bắc Ninh16/09/2026xã Đồng Dương (Đoàn xã Đồng Dương)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Xuân Mậu (sinh năm 1922, mất năm 2022, quê quán tại xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội) không trực tiếp bấm nút phóng tên lửa, không cầm lái những chiếc MiG chớp nhoáng trên không trung, nhưng ông là người nắm giữ và củng cố vũ khí mạnh mẽ nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam: ý chí chiến đấu và niềm tin tất thắng. Câu chuyện về cuộc đời, con đường cách mạng và những chiến công thầm lặng mà vĩ đại của ông đã để lại cho thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay vô vàn những bài học sâu sắc về lòng yêu nước, bản lĩnh kiên định và nghệ thuật lãnh đạo lòng người.

Để hiểu được tầm vóc của một vị tướng, chúng ta phải lật lại những trang sử về hoàn cảnh gia đình và con đường đưa ông đến với ánh sáng của cách mạng. Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, tên thật là Nguyễn Xuân Kế, cất tiếng khóc chào đời tại thôn Phú Mỹ, xã Ngọc Mỹ, một vùng quê nghèo nhưng giàu truyền thống văn hiến thuộc huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây xưa (nay thuộc Hà Nội). Nằm nép mình bên bóng núi Sài Sơn và mái đình cổ kính, tuổi thơ của cậu bé Kế trôi qua trong cảnh nước mất nhà tan. Những năm tháng đầu thế kỷ hai mươi, bầu trời Việt Nam bị che phủ bởi bóng đen tàn bạo của thực dân Pháp. Hình ảnh những người nông dân hiền lành, chất phác quanh năm lam lũ bán mặt cho đất, bán lưng cho trời nhưng vẫn chịu cảnh sưu cao thuế nặng, những đòn roi tàn nhẫn của cường hào ác bá đã in sâu vào tâm trí cậu thiếu niên. Cảnh nghèo đói, lầm than của đồng bào, đặc biệt là bóng ma của nạn đói lịch sử đang mon men đến gần, đã nung nấu trong lòng chàng trai trẻ một ngọn lửa uất hận và một khát vọng giải phóng quê hương.

Trong bối cảnh ngột ngạt ấy, ánh sáng của Mặt trận Việt Minh như một ngọn hải đăng rọi chiếu vào đêm tối. Năm 1943, khi phong trào cách mạng bắt đầu bùng lên mạnh mẽ ở các vùng nông thôn Bắc Bộ, Nguyễn Xuân Mậu đã nhanh chóng giác ngộ và tham gia vào tổ chức Thanh niên cứu quốc. Dưới những mái nhà tranh vách đất, trong những đêm hội họp bí mật giữa đồng không mông quạnh, ông đã cùng những người đồng chí của mình rải truyền đơn, tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân, chuẩn bị lực lượng cho cuộc tổng khởi nghĩa. Khí chất thông minh, nhạy bén và khả năng thấu hiểu lòng người đã giúp ông nhanh chóng trở thành một cán bộ nòng cốt. Đến tháng Tám năm 1945, khi thời cơ lịch sử chín muồi, ông đã hòa mình vào dòng thác cách mạng vĩ đại của dân tộc, góp phần giành chính quyền về tay nhân dân. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, không chần chừ, ông lập tức gia nhập Vệ quốc đoàn, cầm súng bảo vệ nền độc lập non trẻ của Tổ quốc.

Con đường binh nghiệp của ông từ đó gắn liền với sự trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, trải qua những giai đoạn gian khổ và ác liệt nhất. Từ một Chính trị viên Đại đội, rồi Chính trị viên Tiểu đoàn trong những năm đầu chống Pháp, ông đã thể hiện rõ tố chất của một người làm công tác tư tưởng xuất sắc. Ông hiểu thấu đáo rằng, trong một đội quân mà vũ khí còn thô sơ, trang bị còn thiếu thốn, thì sức mạnh tinh thần, ý chí quyết chiến quyết thắng chính là sức mạnh vật chất to lớn nhất. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954, ông giữ trọng trách là Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn pháo cao xạ 367 - đơn vị phòng không chủ lực đầu tiên của quân đội ta. Giữa vòng vây lửa đạn của quân thù, dưới những chiến hào ngập bùn lầy và máu, tiếng nói của người Chủ nhiệm Chính trị Nguyễn Xuân Mậu đã vang lên, động viên cán bộ chiến sĩ vượt qua muôn vàn gian khổ, "nhằm thẳng quân thù mà bắn", bẻ gãy ưu thế trên không của thực dân Pháp, góp phần làm nên chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Nhưng thử thách lớn nhất, oanh liệt nhất, và cũng là chiến công rực rỡ nhất trong cuộc đời của Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu lại nằm ở cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là trong trận quyết chiến chiến lược bảo vệ bầu trời Hà Nội năm 1972. Sau hiệp định Geneva, ông được Đảng và Nhà nước cử đi học tập nâng cao tại Bắc Kinh và Liên Xô, tiếp thu những kiến thức quân sự và chính trị hiện đại. Trở về nước, ông được giao nhiều trọng trách quan trọng và đến tháng 10 năm 1964, ông chính thức trở thành Phó Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân. Đây là thời kỳ vô cùng cam go khi đế quốc Mỹ bắt đầu leo thang, sử dụng không quân và hải quân đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam.

Khi nhắc đến những chiến công của quân và dân ta trong cuộc đụng độ lịch sử này, không thể không nhắc đến một đối thủ vô cùng nguy hiểm: Máy bay ném bom chiến lược B-52 của Mỹ. B-52 lúc bấy giờ được mệnh danh là "Siêu pháo đài bay", "ngáo ộp của bầu trời", là niềm tự hào của nền công nghiệp quốc phòng Hoa Kỳ. Với khả năng mang theo hàng chục tấn bom, bay ở độ cao trên mười nghìn mét và đặc biệt là hệ thống tác chiến điện tử vô cùng tối tân có khả năng gây nhiễu mù toàn bộ hệ thống radar, B-52 được người Mỹ rêu rao là "bất khả xâm phạm". Chúng tự mãn tuyên bố sẽ đưa miền Bắc Việt Nam "trở về thời kỳ đồ đá". Áp lực tâm lý đè nặng lên các lực lượng phòng không của ta là vô cùng lớn. Làm sao để đánh được B-52? Làm sao để bộ đội không bị choáng ngợp trước sức mạnh công nghệ của kẻ thù? Đó là câu hỏi nhức nhối, là trách nhiệm nặng nề đặt lên vai Bộ Tư lệnh Quân chủng, trong đó có Phó Chính ủy Nguyễn Xuân Mậu.

Lịch sử đã ghi lại lời tiên đoán thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ cuối năm 1967: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua... Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị". Ghi lòng tạc dạ lời Bác dạy, trên cương vị là người lãnh đạo công tác chính trị và tư tưởng, Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu hiểu rằng trận chiến sắp tới không chỉ là cuộc đọ sức về tên lửa, radar hay máy bay, mà thực chất là cuộc đọ sức về ý chí, bản lĩnh và trí tuệ. Ông đã lặn lội xuống tận các chiến trường khu Bốn, nơi B-52 thường xuyên rải thảm bom, xuống tận các trận địa radar, các tiểu đoàn tên lửa để nắm bắt tâm tư, tình cảm của bộ đội.

Ông đã cùng Bộ Tư lệnh Quân chủng chỉ đạo tổ chức hàng loạt các đợt sinh hoạt chính trị, đả thông tư tưởng, phá bỏ tâm lý sợ hãi B-52 trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Tại các trận địa ngụy trang kham khổ, dưới cái nắng chói chang hay trong những đêm mưa rét mướt, hình ảnh vị Phó Chính ủy ân cần, gần gũi đã trở thành nguồn động viên to lớn. Ông thường xuyên nói với bộ đội: "Vũ khí, máy móc dù hiện đại đến đâu cũng là do con người tạo ra. Kẻ thù dùng máy móc để gây nhiễu, thì chúng ta phải dùng trí tuệ con người để vạch nhiễu tìm thù. Đảng viên đi trước, làng nước theo sau, không có vũ khí nào mạnh bằng lòng dũng cảm và trí thông minh của người chiến sĩ cách mạng". Dưới sự chỉ đạo sâu sát về mặt tư tưởng của ông và tập thể lãnh đạo, cuốn cẩm nang bìa đỏ "Cách đánh B-52" đã được biên soạn và phổ biến đến từng kíp chiến đấu, biến những kinh nghiệm thực tiễn đẫm máu trở thành thứ vũ khí tinh thần và chiến thuật vô giá.

Và rồi, mười hai ngày đêm khói lửa của tháng 12 năm 1972 đã ập đến như một định mệnh lịch sử. Ngày 18 tháng 12, đế quốc Mỹ mở màn chiến dịch Linebacker II, trút hàng ngàn tấn bom đạn xuống Hà Nội, Hải Phòng. Kỷ niệm về những ngày giông bão ấy không bao giờ phai mờ trong tâm trí vị tướng già. Lịch sử vẫn còn ghi lại câu chuyện chân thực và đầy hiểm nguy của ông trong đúng cái ngày định mệnh đó. Sáng 17 tháng 12, Phó Chính ủy Nguyễn Xuân Mậu sang thăm và kiểm tra Trung đoàn tên lửa SAM-3. Đây là đơn vị vừa được tập huấn ở nước ngoài về, khí thế hừng hực nhưng vũ khí thì vẫn đang mắc kẹt ở biên giới chưa về kịp. Đứng trước những người chiến sĩ đang bừng bừng ý chí chiến đấu, ông truyền đạt mệnh lệnh của Quân chủng, kiên quyết yêu cầu bộ đội phải đào hầm hào trú ẩn, bảo toàn lực lượng, chờ đợi vũ khí. Ông nhấn mạnh: "Có người là sẽ có vũ khí, còn người là còn chiến đấu".

Kinh nghiệm dày dạn từ những năm bám trụ chiến trường Quảng Trị đã mách bảo ông rằng, bầu không khí ngột ngạt này chính là dấu hiệu của một cơn bão lớn. Sáng ngày 18 tháng 12, ông giục lái xe khẩn trương qua phà để trở về Sở chỉ huy Quân chủng. Trên đường đi, khi đến đoạn Mai Lĩnh, ranh giới giữa sự sống và cái chết đã lướt qua ông trong gang tấc. Một chiếc máy bay F-111 của địch bất ngờ lao tới, phóng rốc-két ngay phía sau chiếc xe UAZ của ông. Sức ép của vụ nổ hất tung chiếc xe nẩy ngược lên không trung. Khói bụi mù mịt, đất đá rào rào rơi xuống. Nhưng như có một phép màu của lịch sử bảo vệ những con người mang sứ mệnh lớn lao, ông và đồng đội may mắn không ai bị thương. Không một chút nao núng, ông lệnh cho tài xế tiếp tục lao đi trong tiếng còi báo động phòng không bắt đầu rú lên thê thiết khắp bầu trời Hà Nội.

Ông trở về đến Sở chỉ huy sơ tán tại chùa Trầm, huyện Chương Mỹ vào lúc 19 giờ 45 phút. Ngay lúc đó, thành phố đã chìm trong bóng tối, mất điện hoàn toàn, trời rét căm căm và mưa phùn lất phất rải xuống những mái nhà cổ kính. Trong căn hầm Sở chỉ huy chật hẹp, ngột ngạt, không khí căng thẳng tột độ. Trên các màn hình radar, hàng chục, hàng trăm dải nhiễu trắng xóa chói lòa hiện lên, B-52 đã vào đến cửa ngõ thủ đô. Tiếng bom bắt đầu nổ rung chuyển mặt đất. Giữa thời khắc sinh tử ngàn cân treo sợi tóc ấy, sự xuất hiện của Phó Chính ủy Nguyễn Xuân Mậu cùng với phong thái điềm tĩnh, vững vàng của ông đã trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho toàn bộ kíp trực ban. Ông đứng cạnh những người chỉ huy, theo dõi sát sao từng tín hiệu, từng báo cáo từ các tiểu đoàn tên lửa.

Đêm đó, chiếc B-52 đầu tiên đã bị bắn hạ rực cháy trên cánh đồng Phù Lỗ. Tiếng reo hò vỡ òa trong Sở chỉ huy. Nhưng cuộc chiến chỉ mới bắt đầu. Sang đêm 19 tháng 12, không quân Mỹ thay đổi chiến thuật, tăng cường nhiễu phức tạp hơn, các đội hình tiêm kích bám sát bảo vệ B-52 vô cùng chặt chẽ. Hiệu suất chiến đấu của bộ đội tên lửa giảm sút, bắn hơn ba mươi quả đạn nhưng không có chiếc B-52 nào rơi tại chỗ. Không khí trong Sở chỉ huy chùng xuống. Trước tình hình cam go đó, Phó Chính ủy Nguyễn Xuân Mậu đã cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân chủng nhanh chóng hội ý, phân tích tình hình. Ông hiểu rằng, lúc này, bất kỳ một sự hoang mang hay chùn bước nào cũng có thể dẫn đến thất bại thảm hại. Bằng kinh nghiệm chính trị sắc sảo, ông chỉ đạo các đơn vị lập tức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh đội hình, xốc lại tinh thần chiến đấu. Những thông điệp tư tưởng mạnh mẽ được truyền đi ngay trong đêm, yêu cầu các trắc thủ radar phải giữ cái đầu lạnh, bình tĩnh phân tích các dải nhiễu, kiên quyết "vạch nhiễu tìm thù". Ông trực tiếp động viên: "Khó khăn chỉ là tạm thời, kẻ thù đang sợ hãi sự kiên cường của chúng ta. Hãy bình tĩnh, tự tin vào vũ khí, tự tin vào bản lĩnh của người lính phòng không Việt Nam!". Nhờ sự lãnh đạo kiên quyết, kịp thời về cả chiến thuật lẫn tư tưởng ấy, trong những ngày đêm tiếp theo, bộ đội phòng không không quân của ta đã tìm lại được nhịp độ chiến đấu, liên tiếp đánh những đòn sấm sét, bắn rơi rụng hàng loạt "pháo đài bay", bảo vệ vững chắc bầu trời Hà Nội. Kết thúc mười hai ngày đêm, 34 chiếc B-52 bị thiêu rụi, đế quốc Mỹ phải cúi đầu ký Hiệp định Paris. Chiến công ấy có phần đóng góp vô cùng to lớn bằng máu, mồ hôi và cả sức lực trí tuệ của vị Chính ủy tài ba Nguyễn Xuân Mậu.

Trải qua những năm tháng dọc ngang chiến trận, khi đất nước hòa bình, Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu tiếp tục cống hiến cho công cuộc xây dựng quân đội, giữ những chức vụ cao cấp như Chính ủy Quân chủng Phòng không, Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương. Năm 1989, ông cáo lão từ quan, lui về sống một cuộc đời giản dị, thanh bạch giữa lòng thủ đô Hà Nội.

Người ta thường nói, "giây phút hy sinh" của một vị tướng không nhất thiết phải là lúc gục ngã trên chiến trường với viên đạn xuyên qua lồng ngực. Đối với Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, cả cuộc đời gần một thế kỷ của ông đã là một sự hy sinh thầm lặng và bền bỉ vô giá. Ông đã hy sinh tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất cho những chiến hào Điện Biên, hy sinh những đêm ngủ yên giấc cho bầu trời rực lửa của Hà Nội năm 1972, và hy sinh những năm tháng tuổi già để đau đáu viết lại những dòng hồi ức, truyền lửa cho thế hệ mai sau. Ông sống không chỉ cho riêng mình, mà sống thay cho cả phần đời của hàng vạn đồng chí, đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường khốc liệt. Ngày 13 tháng 6 năm 2022, trái tim của vị tướng già, người chứng nhân lịch sử vĩ đại của Điện Biên Phủ trên không, đã ngừng đập. Ông thanh thản trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 100 tuổi. Giây phút ông nhắm mắt xuôi tay, không có tiếng bom gầm đạn réo, chỉ có tiếng nức nở tiếc thương của gia đình, đồng đội và nhân dân. Sự ra đi của ông - một sự hy sinh giữa thời bình - là một nốt lặng bi tráng khép lại một bản anh hùng ca bất tử. Ông đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của một người con yêu nước, nhẹ bước vân du về cõi vĩnh hằng để đoàn tụ cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những người chiến sĩ phòng không năm xưa.

(Nguồn tài liệu tham khảo: Sách "Lịch sử Quân chủng Phòng không - Không quân"; Báo Quân đội nhân dân điện tử bài viết "Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu và chuyện về những người thẳng thắn"; Hồi ký và các bài viết lịch sử về Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972; Dữ liệu tiểu sử Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu).

Từ câu chuyện về cuộc đời oanh liệt và sự cống hiến không mệt mỏi của Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay nhận ra một bài học vô cùng sâu sắc về sức mạnh của bản lĩnh và niềm tin. Bầu trời hôm nay không còn bom rơi đạn nổ, nhưng những "pháo đài bay B-52" của thời đại mới – đó là sự lạc hậu, nghèo nàn, là những áp lực cạnh tranh khốc liệt trong kỷ nguyên số, và những cám dỗ làm xói mòn lý tưởng – vẫn đang ngày đêm bủa vây. Để chiến thắng, thanh niên chúng ta phải noi gương cha anh, trang bị cho mình không chỉ tri thức hiện đại mà còn phải có một tinh thần thép, một ý chí kiên định không khuất phục trước mọi "nhiễu loạn" của cuộc đời; phải biết biến tình yêu Tổ quốc thành hành động thiết thực, dùng trí tuệ và bản lĩnh để "vạch nhiễu" khó khăn, kiến tạo nên những kỳ tích mới, đưa con tàu Việt Nam vươn ra biển lớn huy hoàng và rực rỡ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn